CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Khái niệm nguồn vốn ODA Hỗ trợ phát triển chính thức hay viện trợ phát triển chính thức được gọi tắt là ODA được bắt nguồn từ cụm từ tiếng Anh - Official Development Assistance. Có rất nhiều Định nghĩa khác nhau về ODA: - Theo Uỷ ban Viện trợ Phát triển: Viện trợ phát triển chính thức ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản Viện trợ và cho vay được ưu đãi, được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển, được các cơ quan chính thức của các Chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ tài trợ.
Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia, một địa phương, một ngành - được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ, thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết. Hiệp định quốc tế hỗ trợ này được chi phối bởi Công pháp quốc tế. - Theo “Báo cáo hợp tác phát triển năm 1998” của chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) thì Hỗ trợ phát triển chính thức lại được định nghĩa là các nguồn hỗ trợ cho các nước đang phát triển từ các tổ chức đa phương của các cơ quan chính thức, Chính phủ và chính quyền địa phương hay của các cơ quan điều hành Chính phủ. - Theo nghị định 17/CP ban hành ngày 4/5/2001 thay thế cho nghị định 87/CP của Chính phủ ban hành ngày 5/8/1997 về qui chế “Quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức” thì: Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được hiểu là sự hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ, bao gồm: Chính phủ nước ngoài Các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên Quốc gia Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng ODA có những đặc điểm chính là: Do Chính phủ một nước hoặc các tổ chức cấp cho các cơ quan chính thức của một nước.
8 Không cấp cho những chương trình, dự án mang tính chất thương mại, mà chỉ cấp nhằm mục đích nhân đạo, giúp phát triển kinh tế, khắc phục khó khăn về tài chính hoặc nâng cao lợi ích kinh tế - xã hội của nước nhận viện trợ. Tính ưu đãi chiếm trên 25% giá trị của khoản vốn vay. Một khoản tài trợ được coi là ODA, nếu đáp ứng đầy đủ 3 đặc điểm sau: - Được cung cấp bởi các tổ chức chính thức hoặc đại diện của các tổ chức chính thức, tổ chức chính thức bao gồm các nhà nước mà đại diện là Chính phủ, cá tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, và các tổ chức phi chính phủ hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. - Có mục tiêu chính là giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội.
Các lĩnh vực được ưu tiên sử dụng vốn ODA bao gồm: xoá đói, giảm nghèo, nông nghiệp và phát triển nông thôn; cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, năng lượng; cơ sở hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường; các vấn đề xã hội như tạo việc làm, phòng chống dịch bệnh, phòng chống các tệ nạn xã hội; cải cách hành chính, tư pháp, tăng cường năng lực của cơ quan quản lý nhà nước, cải cách thể chế. - Mang tính ưu đãi: Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn vay) và thời gian ân hạn dài. Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm, thông thường trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại (cho không), đây cũng chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại. Thành tố cho không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại.2 Khái niệm dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ODA Dự án là tổng thể các hoạt động (quyết định và công việc) phụ thuộc lẫn nhau nhằm tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất trong khoảng thời gian xác định với sự rằng buộc về nguồn lực trong bối cảnh không chắc chắn Các phương diện chính của dự án Phương diện thời gian: Về phương diện này dự án là một quá trình bao gồm 3 giai đoạn kế tiếp nhau và chi phối nhau: Xác định, nghiên cứu và lập dự án; Giai đoạn triển khai dự án; Giai đoạn kết thúc dự án.
Phương diện kinh phí dự án: Kinh phí dự án là biểu hiện bằng tiền của các nguồn lực cần thiết cho hoạt động của dự án. Trung tâm của phương diện này là vấn đề vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư Phương diện độ hoàn thiện của dự án (chất lượng dự án) Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự 9 tăng trưởng về số lượng, duy trì, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong khoản thời gian xác định. Các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ODA có những đặc điểm riêng biệt như sau: Thứ nhất, các dự án có nguồn vốn ODA thường có mục tiêu phức tạp, mục tiêu hiệu quả kinh tế không phải là mục tiêu hàng đầu như các dự án khác. Thứ hai, các dự án có nguồn vốn ODA thường có thời gian dài nên ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện cũng như quản lý chi phí của dự án.
Thứ ba, các dự án có nguồn vốn ODA có nhiều chủ thể quản lý. Ngoài ban quản lý dự án và còn có chính phủ và các tổ chức phi chính phủ… Mặt khác, các dự án đầu tư từ nguồn vốn ODA có đa dạng các nhà tài trợ. Các nhà tài trợ bao gồm: Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên Chính phủ cung cấp vốn ODA cho Bên Việt Nam để thực hiện các chương trình, dự án tại Việt Nam. Các nhà tài trợ đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp vốn ưu đãi cho các dự án vốn ODA.
Trong một số trường hợp đặc biệt thì mục tiêu của dự án còn bị phụ thuộc khá nhiều vào mục đích của nhà tài trợ. Khái niệm về quản lý dự án đầu tư từ nguồn vốn ODA Một cách chung nhất có thể hiểu quản lý dự án là tổng thể những tác động có hướng đích của chủ thể quản lý tới quá trình hình thành, thực hiện và hoạt động của dự án nhằm đạt tới mục tiêu dự án trong những điều kiện và môi trường biến động Một cách cụ thể hơn, Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệ thống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự án dưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn. Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và đánh giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án. Nói cách khác, quản lý dự án đầu tư là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép (Từ Quang Phương, 2005) Quản lý dự án sử dụng vốn ODA là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án sử dụng vốn ODA nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi vốn ODA 10 được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép.
Quản lý dự án đầu tư của Ban quản lý dự án có những đặc điểm sau: - Chủ thể của quản lý dự án chính là Ban quản lý dự án - Khách thể của quản lý dự án liên quan đến phạm vi công việc của dự án (tức là toàn bộ nhiệm vụ công việc của dự án). Những công việc này tạo thành quá trình vận động của hệ thống dự án. Quá trình vận động này được gọi là chu kỳ tồn tại của dự án. - Mục đích của quản lý dự án là để thực hiện mục tiêu của dự án, tức là sản phẩm cuối cùng phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.
Bản thân việc quản lý không phải là mục đích mà là cách thực hiện mục đích. - Chức năng của quản lý dự án có thể khái quát thành nhiệm vụ lên kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều tiết, khống chế dự án. Nếu tách rời các chức năng này thì dự án không thể vận hành có hiệu quả, mục tiêu quản lý cũng không được thực hiện. Quá trình thực hiện mỗi dự án đều cần có tính sáng tạo, vì thế chúng ta thường coi việc quản lý dự án là quản lý sáng tạo (Từ Quang Phương, 2005) 1.
NỘI DUNG QUẢN LÝ DỰ ÁN SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA 1. Nội dung quản lý dự án sử dụng nguồn vốn ODA theo chu kỳ dự án đầu tư 1. Giai đoạn chuẩn bị thực hiện dự án Nghiên cứu cơ hội đầu tư (nhận dạng dự án, xác định dự án) Mục đích của bước nghiên cứu này là xác định một cách nhanh chóng, nhưng ít tốn kém về các cơ hội đầu tư. Nội dung của việc nghiên cứu là xem xét các nhu cầu và khả năng cho việc tiến hành các công cuộc đầu tư, các kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư.
Đây là những ý tưởng ban đầu được hình thành trên cơ sở cảm tính trực quan của nhà đầu tư hoặc trên cơ sở quy hoạch định hướng của vùng, của khu vực hay của quốc gia, quy hoạch tổng thể phát triển ngành. Thường giai đoạn này kết thúc bằng một kế hoạch mang tính chất chỉ đạo về hướng đầu tư và hình thành tổ chức nghiên cứu.