CHƯƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA HOA KỲ VÀO VIỆT NAM 1. Khái niệm các Công ty xuyên quốc gia và bản chất hoạt động đầu tư ra nước ngoài 1. Khái niệm và định nghĩa về Công ty xuyên quốc gia Khi quá trình sản xuất – kinh doanh của một công ty vượt ra khỏi biên giới quốc gia và có quan hệ kinh tế chặt chẽ với nhiều nước thông qua việc thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài thì công ty đó được gọi là công ty xuyên quốc gia. Sự phát triển liên tục của công ty xuyên quốc gia về quy mô, cơ cấu tổ chức, phương thức sở hữu từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay đã làm nảy sinh rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về công ty xuyên quốc gia.
Mặc dù đều thừa nhận rằng, các công ty xuyên quốc gia phải là những công ty độc quyền lớn, hoạt động trên phạm vi quốc tế, sử dụng nhân công, nguyên liệu cho sản xuất tại nước mà nó cắm nhánh và có thể gọi là công ty xuyên quốc gia hay công ty đa quốc gia tùy theo tiến trình phát triển nhận thức chung về loại hình công ty này. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thấy về cơ bản có hai quan niệm chính như sau: Thứ nhất, quan niệm về công ty quốc tế (International Corporation), trong đó bao gồm cả công ty toàn cầu, công ty xuyên quốc gia, công ty đa quốc gia và công ty siêu quốc gia. Những người theo quan niệm này không quan tâm đến nguồn gốc tư bản sở hữu cũng như quốc tịch của công ty, không chú ý đến bản chất quan hệ sản xuất của quốc gia có công ty đó hay chi nhánh của nó. Nói chung, họ ch quan tâm đến mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại, đầu tư quốc tế hóa các hoạt động kinh doanh của các công ty mà thôi.
Thứ hai, quan niệm về công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation) Là những công ty tư bản độc quyền có tư bản thuộc về chủ tư bản của một nước nhất định nào đó. Ở đây, người ta chú ý đến tính chất sở hữu và tính quốc 4 z tịch của tư bản: vốn đầu tư – kinh doanh là của ai? ở đâu? Chủ tư bản ở một nước cụ thể nào đó có công ty mẹ đóng tại nước đó và thực hiện kinh doanh trong và ngoài nước, bằng cách lập các công ty con ở nước ngoài là hình thức điển hình của loại hình này. Ví dụ công ty Sony của Nhật Bản (tài sản tương ứng 46 tỷ USD), công ty Ford của Mỹ (tài sản tương ứng 263 tỷ USD) trong quá trình sản xuất và kinh doanh đã dần trở thành những công ty khổng lồ của thế giới, chúng đã thiết lập các chi nhánh ở nhiều nước trên thế giới kể cả ở Việt Nam và đều là những công ty xuyên quốc gia theo loại hình này. Dựa trên tiêu thức sở hữu để xác đinh loại hình công ty, người ta còn đưa ra khái niệm công ty đa quốc gia (Multinational Corporation).
Là công ty tư bản độc quyền thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài để tiến hành các hoạt động kinh doanh quốc tế, nhưng khác với công ty xuyên quốc gia ở chỗ, tư bản thuộc sở hữu công ty mẹ là của hai hay nhiều nước. Ví dụ: công ty mẹ “Royal Dutch / Shell Group” và công ty mẹ “Unilever” có vốn sở hữu của các chủ tư bản Anh và Hà Lan (tài sản tương ứng là 124,4 tỷ USD). Công ty mẹ Fortis thuộc sở hữu của Hà Lan và B (tài sản 177 tỷ USD) là những công ty mẹ đã thiết lập hàng trăm chi nhánh ở nhiều nước trên thế giới và vì sở hữu của công ty tư bản của hai nước, do đó người ta gọi chúng là công ty đa quốc gia, hay còn gọi là công ty liên quốc gia, công ty siêu quốc gia. Sự phân định này chủ yếu căn cứ vào vốn của công ty, thuộc sở hữu tư bản một nước hay nhiều nước từ đó liên quan đến tập đoàn lãnh đạo quản lý của công ty.
Nếu là công ty xuyên quốc gia thì tập đoàn lãnh đạo, quản lý thuộc về các nhà tư bản một nước. Nếu là công ty đa quốc gia thì hội đồng quản trị lãnh đạo của Công ty bao gồm các nhà tư bản có cổ phần thuộc nhiều nước khác nhau. Sự phân định trên ch căn cứ vào công ty mẹ chứ không căn cứ vào các công ty hay xí nghiệp chi nhánh. Trong số 500 công ty lớn nhất hiện nay, ch có 3 công ty trên là thuộc sở hữu của hai nước.
Số còn lại 497 công ty (chiếm 99,4%) thuộc sở hữu ch của một nước, không có công ty nào thuộc sở hữu của 3 nước trở lên. Như vậy tính chất đa quốc gia của công ty mẹ là rất thấp. Hiện nay người ta ít dùng thuật ngữ “công ty đa quốc gia” mà dùng thuật ngữ “công ty xuyên quốc gia”. 5 z Ngày nay, không có công ty xuyên quốc gia nào là không phải công ty tư bản độc quyền lớn.
Trong các công ty đó thường bao gồm nhiều loại tư bản (tư bản sản xuất, thương mại, tài chính…) hoạt động liên kết với nhau. Điều đó cho phép các công ty có khả năng hoạt động linh hoạt hiệu quả, phân tán được rủi ro trong kinh doanh. [1, trg48] Như vậy, hai quan niệm trên khác nhau ở chỗ xem xét công ty xuyên quốc gia hoặc là giác độ kinh doanh quốc tế, hoặc từ giác độ sở hữu. Các quan niệm này được hình thành từ lịch sử phát triển của công ty hoạt động vượt ra khỏi biên giới quốc gia và hoạt động trên phạm vi quốc tế.
Sự phát triển đó là một quá trình do vậy ngay từ thời kỳ đầu chưa thể có ngay những định nghĩa thống nhất chung. Một số định nghĩa về công ty xuyên quốc gia: Năm 1976, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã viết trong cuốn “Định hướng cho các công ty đa quốc gia”: “Một công ty đa quốc gia bao gồm nhiều công ty hay thực thể kinh tế. Những thực thể này có thể thuộc quyền sở hữu cá nhân, thuộc quyền ở hữu Nhà nước hay sở hữu hỗn hợp, được thành lập ở nhiều nước khác nhau và có mối liên kết chặt chẽ. Chúng ảnh hưởng đến hoạt động của nhau và đặc biệt có chung mục đích và nguồn vốn kinh doanh.
Trong một quốc gia, mức độ tự chủ của các thực thể rất khác nhau, tùy thuộc vào bản chất mối liên kết và lĩnh vực hoạt động giữa chúng”. Nhóm các nhà nghiên cứu thuộc LH báo cáo “Tác động của các công ty đa quốc gia đến quá trình phát triển và quan hệ quốc tế” đã viết: “Công ty đa quốc gia là những công ty nắm quyền sở hữu hay kiểm soát hoạt động sản xuất và hệ thống bán hàng tại nhiều nước khác ngoài nước mình. Đây không chỉ là công ty cổ phần, công ty tư nhân mà chúng có thể là những công ty dưới hình thức hợp tác xã hay thực thể thuộc quyền sở hữu Nhà nước”. Năm 1998, trong báo cáo Đầu tư Thế giới 1998, các chuyên gia của Liên hiệp quốc đã nêu định nghĩa về công ty xuyên quốc gia cụ thể hơn như sau: “Các công ty xuyên quốc gia là những công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn bao gồm các công ty mẹ và các chi nhánh nước ngoài của chúng.
Các công ty mẹ là các công ty mà việc kiểm soát tài sản của các thực thể kinh tế khác ở 6 z nước ngoài thường được thực hiện thông qua việc góp vốn tư bản cổ phần của chúng. Mức góp vốn 10% thường được xem như là ngưỡng đối với quyền kiểm soát tài sản của các công ty khác. Các chi nhánh nước ngoài (còn gọi là công ty con) là các công ty TNHH hoặc vô hạn trong đó chủ đầu tư là người sống ở nước ngoài, có mức góp vốn cho phép có được lợi ích lâu dài trong việc quản lý công ty đó (mức góp vốn cổ phần 10% đối với công ty TNHH hoặc tương đương với công ty trách nhiệm vô hạn)”. Có khá nhiều định nghĩa về công ty xuyên quốc gia và tính xuyên suốt của việc chi phối quyền sở hữu công ty, thể hiện hợp lý bản chất nội dung phạm trù xuyên quốc gia trong các định nghĩa.
Tuy nhiên, để nêu được một số khái niệm bao quát cả nguồn gốc và bản chất của các công ty xuyên quốc gia phải xuất phát từ sự vận động lịch sử của hình thái tế bào của quan hệ sản xuất TBCN trong giai đoạn hiện nay được thể hiện ở các công ty xuyên quốc gia. Do đó, công ty xuyên quốc gia được hiểu là một loại cơ cấu tổ chức kinh doanh quốc tế, dựa trên cơ sở kết hợp giữa quá trình sản xuất quy mô lớn của nhiều thực thể kinh doanh quốc tế với quá trình phân phối và khai thác thị trường quốc tế để đạt hiệu quả tối ưu nhằm thu được lợi nhuận độc quyền cao. Bản chất của hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Có nhiều định nghĩa về hoạt động đầu tư ra nước ngoài (FDI), song tựu chung lại FDI là hiện tượng một doanh nghiệp đưa các tài sản trực tiếp hoạt động kinh doanh ở nước ngoài và giành quyền định đoạt thành quả đạt được.
FDI thể hiện rằng đối với một nhà đầu tư các tạo phẩm phi vật thể do nhà đầu tư đó tạo ra cho các hàng hoá và dịch vụ có vai trò quan trọng khiến họ phải tự thân làm việc đó ở môi trường địa lý khác. Những lợi ích do những tạo phẩm phi vật thể được FDI tạo ra lớn hơn rất nhiều những gì mà hoạt động thương mại đơn thuần đem lại vì giá trị thương hiệu của một hãng lớn hơn nhiều lần tổng giá trị của các tài sản hữu hình của hãng đó. Sở dĩ cần phải đầu tư trực tiếp vì những tạo phẩm phi vật thể được tạo ra phải gắn với tên tuổi của một hãng. Có những hoạt động không thể mua đứt bán đoạn như trong thương mại vì còn liên quan tới những tạo phẩm phi vật thể, mà đòi hỏi phải có sự giám sát chặt chẽ các quy trình thì mới bảo đảm được các yêu cầu đó, phải bảo đảm được những nền tảng cơ bản để các tạo phẩm phi vật thể mới có thể cài vào được các hàng hoá và dịch vụ.
Không phải cứ gắn nhãn mác vào là chuyển tải được các tạo phẩm phi vật 7 z thể gắn liền với nó.