Luận văn: Quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp tại huyện Bắc Trà My

Luận văn phân tích thực trạng quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp tại huyện Bắc Trà My, Quảng Nam, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

86
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh công tác quản lý đất lâm nghiệp tại Bắc Trà My

Huyện Bắc Trà My, một huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam, sở hữu diện tích đất lâm nghiệp chiếm đến 81,9% tổng diện tích tự nhiên, theo số liệu kiểm kê năm 2019. Với 69.329 ha, trong đó có 28.717 ha rừng tự nhiên và 34.579 ha rừng trồng, tài nguyên này đóng vai trò chiến lược trong việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và đảm bảo sinh kế người dân miền núi, đặc biệt là cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 58,7% dân số. Công tác quản lý đất lâm nghiệp tại Bắc Trà My không chỉ là nhiệm vụ của chính quyền địa phương mà còn là yếu tố quyết định sự phát triển rừng bền vững và ổn định an ninh khu vực. Trong giai đoạn 2015-2020, việc quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn đã có những chuyển biến tích cực, thể hiện qua việc ban hành các văn bản chỉ đạo kịp thời và nỗ lực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này cũng đối mặt với nhiều thách thức do đặc thù địa hình phức tạp, trình độ dân trí và tập quán canh tác còn hạn chế. Việc nhận diện đúng thực trạng, từ đó đề ra các giải pháp đồng bộ là yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bảo tồn đa dạng sinh học và ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần cải thiện đời sống người dân, đặc biệt là tại các xã vùng sâu, vùng xa của huyện.

1.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tại huyện Bắc Trà My

Bắc Trà My là huyện miền núi có địa hình hiểm trở, chia cắt phức tạp, với độ cao trung bình từ 300-600m. Dân số toàn huyện là 41.050 người, trong đó cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số (Cadong, Xê Đăng, Cor...) chiếm tỷ lệ đa số. Nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông, lâm nghiệp, chiếm hơn 70% cơ cấu lao động. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo còn khá cao (28,93%), trình độ dân trí chưa đồng đều và tập quán canh tác du canh, du cư vẫn tồn tại. Những yếu tố này tạo ra áp lực lớn lên tài nguyên rừng. Tài liệu nghiên cứu của Dương Minh Anh (2021) chỉ rõ: "Việc người dân du canh, du cư phá rừng làm rẫy bảo đảm cuộc sống vẫn còn xảy ra, diện tích đất có rừng ngày càng bị thu hẹp". Đây là đặc điểm cốt lõi ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý đất lâm nghiệp tại địa phương, đòi hỏi các chính sách phải vừa chặt chẽ về mặt pháp lý, vừa phù hợp với điều kiện sống và văn hóa của người dân.

1.2. Vai trò của đất lâm nghiệp đối với sự phát triển địa phương

Đất lâm nghiệp là tư liệu sản xuất chính và là nguồn sống của phần lớn người dân tại huyện Bắc Trà My. Việc quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên này có ý nghĩa quyết định đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo và phát triển rừng bền vững. Rừng không chỉ cung cấp lâm sản mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn và duy trì đa dạng sinh học. Các chính sách như giao đất giao rừng đã và đang được triển khai nhằm trao quyền tự chủ cho người dân, gắn lợi ích kinh tế của họ với trách nhiệm bảo vệ rừng. Hiệu quả của các chính sách này sẽ trực tiếp tác động đến cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân, từ đó giảm thiểu tình trạng khai thác lâm sản trái phép và ổn định xã hội.

II. Các thách thức lớn trong quản lý đất lâm nghiệp ở Bắc Trà My

Công tác quản lý đất lâm nghiệp tại Bắc Trà My đối mặt với nhiều khó khăn, bắt nguồn từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Thách thức lớn nhất là tình trạng lấn chiếm đất rừngtranh chấp đất đai. Địa hình phức tạp, ranh giới đất lâm nghiệp trên thực địa chưa được xác định rõ ràng ở nhiều khu vực đã tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, nhận thức về Luật Lâm nghiệp của một bộ phận người dân còn hạn chế, kết hợp với nhu cầu đất sản xuất bức thiết đã dẫn đến các vụ phá rừng làm nương rẫy. Luận văn của Dương Minh Anh (2021) nhấn mạnh: "Thiếu đất sản xuất cũng đã làm nảy sinh các vấn đề phức tạp trong xã hội, dẫn đến tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, tranh chấp đất đai". Công tác quản lý còn bộc lộ những hạn chế trong việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng như kiểm lâm địa bàn, chính quyền xã và ban quản lý rừng phòng hộ. Năng lực và số lượng cán bộ chuyên trách còn mỏng so với địa bàn quản lý rộng lớn, gây khó khăn cho việc tuần tra, giám sát và xử lý vi phạm kịp thời. Đây là những rào cản chính cần được tháo gỡ để nâng cao hiệu quả sử dụng đất và bảo vệ tài nguyên rừng một cách bền vững.

2.1. Thực trạng tranh chấp lấn chiếm và sử dụng đất sai mục đích

Tình trạng tranh chấp đất đai giữa các hộ gia đình, giữa người dân với các đơn vị quản lý rừng diễn ra khá phổ biến. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc hồ sơ địa chính chưa hoàn thiện, mốc giới lâm phận chưa được cắm đầy đủ ngoài thực địa và lịch sử sử dụng đất phức tạp. Tình trạng lấn chiếm đất rừng để trồng rừng kinh tế tự phát hoặc canh tác nông nghiệp vẫn xảy ra, đặc biệt tại các khu vực giáp ranh. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp chưa tuân thủ chặt chẽ quy hoạch sử dụng đất Bắc Trà My, gây phá vỡ cấu trúc rừng, làm suy giảm độ che phủ và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái.

2.2. Hạn chế trong hệ thống chính sách và năng lực thực thi

Mặc dù hệ thống văn bản pháp luật về đất đai và lâm nghiệp đã được ban hành, việc triển khai và áp dụng tại cơ sở vẫn còn nhiều bất cập. Một số chính sách giao đất giao rừng chưa thực sự đi vào cuộc sống, quyền lợi và nghĩa vụ của người nhận khoán chưa được đảm bảo đầy đủ, dẫn đến thiếu động lực trong việc bảo vệ rừng. Năng lực của đội ngũ cán bộ địa chính, kiểm lâm địa bàn ở cấp xã còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe. Thực tế cho thấy, các vi phạm thường được phát hiện muộn, gây khó khăn cho việc khắc phục hậu quả và xử lý dứt điểm.

III. Phương pháp tối ưu hóa quy hoạch và thực thi pháp luật lâm nghiệp

Để giải quyết các thách thức, giải pháp nền tảng là hoàn thiện công tác quy hoạch sử dụng đất Bắc Trà My và tăng cường năng lực thực thi Luật Lâm nghiệp. Việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất) cần được tiến hành khẩn trương, đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế và định hướng phát triển của địa phương. Quá trình này phải có sự tham gia của cộng đồng dân cư, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, để đảm bảo tính khả thi và đồng thuận xã hội. Sau khi quy hoạch được phê duyệt, cần đẩy nhanh việc cắm mốc ranh giới trên thực địa và hoàn thiện hồ sơ địa chính. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp phải được xem là nhiệm vụ trọng tâm, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho người dân yên tâm đầu tư sản xuất và bảo vệ tài sản của mình. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm như lấn chiếm đất rừng hay khai thác lâm sản trái phép. Việc áp dụng công nghệ thông tin, viễn thám trong giám sát biến động tài nguyên rừng cũng là một hướng đi cần được chú trọng để quản lý hiệu quả hơn.

3.1. Rà soát điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng phù hợp thực tiễn

Việc rà soát quy hoạch sử dụng đất cần dựa trên đánh giá khoa học về tiềm năng đất đai, hiện trạng tài nguyên và nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Cần xác định rõ ranh giới các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng để có biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt. Đối với diện tích rừng sản xuất, cần quy hoạch các vùng chuyên canh trồng rừng kinh tế với các loại cây có giá trị cao, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng. Quá trình này phải gắn liền với việc công khai, minh bạch thông tin quy hoạch để người dân biết, thực hiện và giám sát, hạn chế tối đa các tranh chấp đất đai phát sinh.

3.2. Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp là khâu then chốt để hợp pháp hóa quyền của người sử dụng đất. Chính quyền huyện Bắc Trà My cần xây dựng kế hoạch chi tiết, đơn giản hóa thủ tục hành chính và bố trí đủ nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ. Theo thống kê, đến năm 2020, huyện đã cấp được 11.303 giấy chứng nhận. Cần tiếp tục rà soát các diện tích còn lại, giải quyết dứt điểm các vướng mắc về nguồn gốc đất để người dân sớm được hưởng quyền lợi hợp pháp. Việc có giấy chứng nhận sẽ giúp người dân dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi để đầu tư phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

IV. Bí quyết cải thiện sinh kế gắn lợi ích người dân với bảo vệ rừng

Một trong những giải pháp gốc rễ để quản lý đất lâm nghiệp tại Bắc Trà My hiệu quả là giải quyết bài toán sinh kế người dân miền núi. Khi cuộc sống được đảm bảo, người dân sẽ trở thành chủ thể tích cực nhất trong công tác bảo vệ rừng. Do đó, cần triển khai đồng bộ các mô hình phát triển kinh tế dưới tán rừng, nông lâm kết hợp, và trồng rừng kinh tế gỗ lớn. Chính sách giao đất giao rừng cần được thực hiện một cách thực chất, đi kèm với hỗ trợ về kỹ thuật, giống cây trồng và đầu ra cho sản phẩm. Cần khuyến khích người dân phát triển các loại cây dược liệu bản địa, chăn nuôi gia súc dưới tán rừng để tạo thêm nguồn thu nhập, giảm phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên từ rừng tự nhiên. Hơn nữa, việc nâng cao vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng là cực kỳ quan trọng. Các tổ, đội bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng cần được củng cố và có cơ chế hưởng lợi rõ ràng từ dịch vụ môi trường rừng. Qua đó, trách nhiệm và quyền lợi của người dân được gắn kết chặt chẽ, tạo nên một hệ thống quản lý bền vững từ gốc.

4.1. Thực hiện hiệu quả chính sách giao đất giao rừng cho cộng đồng

Cần tiếp tục đẩy mạnh chính sách giao đất giao rừng cho các hộ gia đình và cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số. Quá trình giao đất phải đảm bảo công bằng, minh bạch, đúng đối tượng và phù hợp với phong tục, tập quán địa phương. Chính quyền cần hỗ trợ người dân xây dựng các quy ước, hương ước về bảo vệ và phát triển rừng. Các dự án như KfW10 đã cho thấy hiệu quả khi trao quyền cho cộng đồng. Cần nhân rộng các mô hình này, đồng thời đảm bảo người dân được hưởng lợi một cách công bằng từ các sản phẩm của rừng và các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

4.2. Phát triển mô hình nông lâm kết hợp và kinh tế dưới tán rừng

Việc đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi là chìa khóa để cải thiện sinh kế người dân miền núi. Cần nghiên cứu và nhân rộng các mô hình nông lâm kết hợp như trồng xen cây dược liệu, cây ăn quả dưới tán rừng hoặc kết hợp chăn nuôi. Hỗ trợ kỹ thuật về chọn giống, canh tác và phòng trừ sâu bệnh là cần thiết. Bên cạnh đó, việc xây dựng các chuỗi liên kết giá trị, kết nối người sản xuất với doanh nghiệp tiêu thụ sẽ giúp đảm bảo đầu ra ổn định và nâng cao giá trị sản phẩm. Đây là hướng đi bền vững, vừa giúp tăng thu nhập, vừa góp phần bảo vệ rừng và môi trường.

4.3. Tăng cường năng lực phòng cháy chữa cháy rừng dựa vào cộng đồng

Địa bàn huyện Bắc Trà My có nguy cơ cháy rừng cao vào mùa khô. Việc xây dựng và củng cố các tổ, đội phòng cháy chữa cháy rừng tại các thôn, bản là nhiệm vụ cấp bách. Cần trang bị các phương tiện, công cụ cơ bản và thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, diễn tập cho người dân. Nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguy cơ và các biện pháp phòng ngừa cháy rừng thông qua tuyên truyền. Việc phát huy vai trò của già làng, trưởng bản và người có uy tín trong cộng đồng sẽ giúp công tác này đạt hiệu quả cao hơn, bảo vệ an toàn cho tài sản và tính mạng của người dân.

04/10/2025
Luận văn quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp từ thực tiễn huyện bắc trà my tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẤT LÂM NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp 1. Đất lâm nghiệp - đối tượng của quản lý nhà nước Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thủy văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người. Đất đai chiếm khoảng 29% diện tích bề mặt Trái đất, trong đó khoảng 1/3 là sa mạc.

Vì vậy, đối với mỗi quốc gia, đất đai giữ vai trò rất quan trọng, có thể quyết định đến sự phát triển và vị thế chính trị, đất đai còn là nguồn tài nguyên, tài sản quý giá, thước đo sự giàu có của một quốc gia. Với tầm quan trọng như vậy, đất đai trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành, lĩnh vực trong xã hội. Do đó, quan điểm về đất đai cũng rất đa dạng và nhiều góc nhìn khác nhau theo từng lĩnh vực. Về mặt thuật ngữ khoa học, theo nghĩa rộng: “Đất đai bao gồm các đặc tính của không khí, thổ nhưỡng, địa chất, thuỷ văn, thực vật ngay bên trên và dưới những khu vực cụ thể của bề mặt của Trái đất.

Đồng thời, cũng là kết quả của tất cả các hoạt động trong quá khứ và hiện tại của con người cũng như các loại động vật trên vùng đất đó, ở chừng mực mà những đặc tính đó có ảnh hưởng rõ tời việc sử dụng đất bởi con người ở hiện tại và tương lai”. Ở Việt Nam, quan điểm về tài nguyên đất đai đã được Đảng ta nêu rõ: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước, là nguồn sống của nhân dân”. Đây 8 là khái niệm phù hợp thực tiễn, phản ánh đúng vai trò, ý nghĩa của đất đai đối với đất nước và con người Việt Nam. Bởi lẽ, Việt Nam là quốc gia có diện tích đất hạn hẹp, trong lịch sử dựng nước và giữ nước, trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã vất vả và đấu tranh, lao động để bảo vệ và giữ vững từng tấc đất cho đến ngày nay.

Trong công tác quản lý, khái niệm về đất đai không chỉ giới hạn là bề mặt Trái đất, mà còn bao hàm cả về phương diện bất động sản, như tài sản hợp pháp được định nghĩa là không gian bên trên, dưới hoặc trên mặt đất và bao gồm một số công trình xây dựng về mặt vật chất hoặc pháp lý gắn với tài sản đó, ví dụ một toà nhà. Khái niệm đất đai cũng bao gồm các khu vực có nước bao phủ. Như vậy, khái niệm về đất đai được hiểu là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng, gồm: khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất; theo chiều ngang trên mặt đất, là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, công trình xây dựng cùng các thành phần khác, giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của con người. Đất lâm nghiệp là một loại đất nằm trong nhóm đất nông nghiệp.

Đến nay, khái niệm về đất lâm nghiệp theo các cơ quan quản lý vẫn còn nhiều khác biệt. Tuy nhiên, để phục vụ cho mục đích quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên đất lâm nghiệp hiệu quả và bền vững, khái niệm đất lâm nghiệp đã được các cơ quan Nhà nước thống nhất về mặt thể chế phục vụ cho công tác quản lý và chỉ đạo chung, cụ thể: “Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đất đang khoanh nuôi để phục hồi rừng; đất mới trồng rừng những chưa thành rừng; đất đang trồng rừng hoặc đã giao, 9 cho thuê để trồng rừng và diện tích đất trống trong các khi rừng đặc dụng hoặc diện tích đất trống được bảo vệ trong các khu rừng khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng”. Mỗi loại đất rừng đều xác định với các mục đích khác nhau. Đất lâm nghiệp gồm nhiều loại.

Theo không gian địa hình, có thể được chia thành hai loại: Đất lâm nghiệp trên địa hình cao: thường là đất tại các khu vực đồi, núi, có địa hình dốc và đất lâm nghiệp ở địa hình thấp: chủ yếu được phân bố ở các khu vực trung du, đồng bằng, thung lũng. Theo nguồn gốc hình thành, đất lâm nghiệp được chia thành hai loại: Đất có rừng tự nhiên và Đất có rừng trồng. Dựa trên hiện trạng sử dụng đất, đất lâm nghiệp, có thể phân thành hai loại: đất có rừng: là đất đã có cây rừng hình thành đạt tiêu chuẩn về rừng theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng và đất chưa có rừng được quy hoạch để phát triển, phục hồi rừng: là đất chưa có cây hoặc đã có cây nhưng chưa đạt tiêu chuẩn hình thành rừng và được quy hoạch để tái tạo, phục hồi thành rừng bằng hình thức phát triển tự nhiên hoặc trồng rừng dưới tác động của con người. Theo tiêu chí quản lý và mục đích sử dụng, Luật Đất đai 2013 quy định đất lâm nghiệp thuộc nhóm đất nông nghiệp.

Đất lâm nghiệp gồm: Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng. Cho đến nay, việc phân loại đất lâm nghiệp để phục vụ chủ yếu cho mục đích quản lý Nhà nước về đất đai và tài nguyên rừng và đó là điều rất cần thiết. Khái niệm và đặc điểm của quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp 1. Khái niệm quản lý Nhà nước về sử dụng đất lâm nghiệp Quản lý Nhà nước về sử dụng đất lâm nghiệp là hoạt động do cơ quan nhà nước thực hiện, gắn với việc sử dụng quyền lực nhà nước.

Đối tượng của 10 quản lý nhà nước là các mối quan hệ xã hội trong quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp được pháp luật quy định. Các mục tiêu cơ bản của quản lý là nắm tình hình sử dụng đất lâm nghiệp; phân phối và phân phối lại quỹ đất lâm nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp; điều tiết các nguồn lợi từ đất lâm nghiệp. Từ đó, có thể xác định: “Quản lý nhà nước là tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước bao gồm các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất lâm nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu cơ bản của nhà nước”. Nhìn tổng quát, các hoạt động quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp gồm: - Điều tra, xác định các loại rừng, phân định ranh giới rừng, đất lâm nghiệp trên bản đồ và thực địa đến đơn vị hành chính cấp xã; thống kê theo dõi diễn biến rừng, biến động đất lâm nghiệp.

- Lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng và sử dụng rừng, đất lâm nghiệp trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương. - Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng, đất lâm nghiệp và tổ chức thực hiện các văn bản đã ban hành theo thẩm quyền được pháp luật quy định. - Giao đất lâm nghiệp và giao rừng, thu hồi đất lâm nghiệp và rừng. - Đăng ký, lập và quản lý sổ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Kiểm tra, thanh tra và xử lý các vi phạm trong việc chấp hành luật pháp, chính sách về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng; sử dụng rừng, đất lâm nghiệp. - Giải quyết các tranh chấp về rừng và đất lâm nghiệp. Đặc điểm của quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp Quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp có các đặc điểm sau đây: Một là, về khách thể quản lý là đất lâm nghiệp với các đặc điểm là: - Diện tích đất lâm nghiệp rộng, địa hình phức tạp, khó xác định ranh giới cũng như cập nhật biến động diện tích chính xác. - Diện tích rộng, phân bố không đồng đều nên dễ bị xâm canh, chuyển mục đích sử dụng.

- Cây trồng trên đất lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài, các hoạt động trồng, chăm sóc, quản lý, bảo vệ, thu hoạch mất thời gian dài nên chậm thu hồi vốn và khó xác định giá trị cũng như mức độ tăng trưởng hàng năm. - Trình độ dân trí thấp, mức sống thấp, tập quán sản xuất lạc hậu. Sản xuất lâm nghiệp mang tính xã hội sâu sắc. Hai là, là hoạt động quản lý liên quan đến sử dụng quyền lực nhà nước: Quyền lực nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý hành chính nhà nước.

Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý hành chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật; dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động ,nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập 12 với cấp dưới nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ