Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý đào tạo sau đại học Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo sau đại học tại Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao công tác quản lý đào tạo sau đại học tại Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý Ở mỗi góc nhìn khác nhau, các tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau về quản lý, chẳng hạn như: - Quản lý là một quá trình tác động có ý thức và hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt tới mục tiêu chung đã xác định.
- Quản lý là quá trình đạt tới mục tiêu trên cơ sở chủ thể quản lý sử dụng các chức năng: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. - Quản lý là quá trình đạt tới mục tiêu trên cơ sở chủ thể quản lý sử dụng tối ưu các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực…) - Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định. - Quản lý là hoạt động thiết yếu nẩy sinh khi con người lao động và sinh hoạt tập thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tập thể, tổ chức. - Quản lý thực chất là hoạt động xử lý các mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể.
Những khái niệm trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều có nội dung cơ bản như nhau đó là điều kiện tạo ra quản lý: - Để quản lý, phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất có một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra. Ngoài ra, môi trường quản lý còn có nhiều khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý. Tác động 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lý có thể chỉ là một hoạt động giản đơn, trong thời gian ngắn mà cũng có thể là liên tục nhiều hoạt động phức tạp trong thời gian dài,… - Để quản lý phải có một mục tiêu và một quỹ đạo hoạt động đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. - Để quản lý, chủ thể phải thực hiện việc tác động một cách phù hợp với những đặc điểm, điều kiện và hoàn cảnh của khách thể quản lý.
Có thể nhận thấy, hoạt động quản lý theo tinh thần của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về mối quan hệ qua lại giữa những quy luật xã hội khách quan và hoạt động tự giác của con người có ý nghĩa to lớn đối với lý luận và thực tiễn quản lý. Hoạt động quản lý là sự biểu hiện ý nguyện tự giác của chủ thể quản lý muốn điều chỉnh và hướng dẫn các quá trình và các hiện tượng xã hội. Việc xác định đúng đắn những khả năng và những giới hạn khách quan của hoạt động đó là tiền đề cơ bản xây dựng lý luận khoa học về quản lý và hoàn thiện quá trình quản lý về mặt thực tiễn. Điều đặc biệt cần nhấn mạnh là quản lý trong lĩnh vực xã hội không khi nào là hoạt động có tính chất một chiều, tức là: đối tượng bị quản lý thụ động chịu tác động của chủ thể quản lý.
Với tư cách là người lao động, đối tượng bị quản lý được coi là những chủ thể tự giác, tích cực tham gia vào việc quản lý xã hội. Điều này đã được V.Lênin chỉ ra “Trí tuệ của hàng chục triệu con người sáng tạo sẽ tạo ra cái cao hơn nhiều so với sự tiên đoán vĩ đại và thiên tài cá nhân”. Tóm lại, những khái niệm về quản lý (thuộc lĩnh vực xã hội) nêu trên đều có các đặc trưng chủ yếu là: tính tự giác, tính mục đích và tính quần chúng trong quản lý. Đây cũng được coi là cơ sở phương pháp luận Mác xít của hoạt động quản lý.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những ý chung của các định nghĩa, ta xét quản lý với tư cách là một hoạt động có thể định nghĩa như sau: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra”.Chức năng của quản lý Chức năng quản lý được qui định một cách khách quan bởi chức năng hoạt động của khách thể quản lý. Từ chức năng quản lý xác định được nội dung hoạt động của chủ thể quản lý. Những khái niệm: chức năng quản lý, quá trình quản lý, chu trình quản lý đã được sớm hình thành trong quá trình quản lý sản xuất công nghiệp từ đầu thế kỷ 20. Chúng đã phát triển, hoàn thiện và đã được sử dụng trong cả lĩnh vực quản lý kinh tế - xã hội cũng như trong quản lý giáo dục.
Do đó, khi nghiên cứu khái niệm chức năng quản lý cần đề cập một cách đầy đủ tới các vấn đề khái niệm chức năng quản lý, phân loại chức năng quản lý, quá trình quản lý và chu trình quản lý. Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định Khái niệm “chức năng quản lý” xuất hiện gắn liền với sự phân công và hợp tác lao động trong quá trình sản xuất. Trong nền sản xuất thủ công, một người thợ thực hiện một chuỗi các hoạt động liên tiếp theo một qui trình công nghệ nhất định để hoàn thành một sản phẩm. Trong nền sản xuất công nghiệp, dưới tiến bộ của khoa học – công nghệ, quá trình sản xuất một sản phẩm được chia thành nhiều công đoạn, mỗi công đoạn có nhiệm vụ thực hiện một dạng hoạt động chuyên biệt để tạo ra các bán thành phẩm, phối hợp các bán thành phẩm để có được sản phẩm của quá trình sản xuất (quá trình sản xuất công nghiệp tất nhiên cho ra đời các sản phẩm được nhiều hơn, nhanh hơn tiến tới chất lượng hơn và giá thành được 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hạ hơn trong kiểu sản xuất thủ công).
Như vậy để tạo ra một sản phẩm trong dây chuyền, mỗi nhóm công nhân đã thực hiện một dạng hoạt động nhất định. Mỗi dạng hoạt động chuyên biệt đó nhằm đạt tới một đích nhất định được gọi là chức năng sản xuất. Từ chức năng sản xuất của khách thể được phản ánh vào hoạt động quản lý của chủ thể quản lý mà tạo nên hệ thống chức năng quản lý. Như vậy hệ thống chức năng quản lý được qui định một cách khách quan bởi chức năng hoạt động của khách thể quản lý.
Đào tạo và quản lý đào tạo 1. Đào tạo Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo… một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Về cơ bản, Đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với giáo dục đạo đức, nhân cách. Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao.
Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp. Hai loại này gắn bó và hỗ trợ cho nhau với những nội dung do các dòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kĩ thuật và văn hóa của đất nước. Khái niệm giáo dục nhiều khi bao gồm cả các khái niệm đào tạo, có nhiều dạng đào tạo: Đào tạo cấp tốc, đào tạo chuyên sâu, đào tạo cơ bản, đào tạo lại, đào tạo ngắn hạn, đào tạo từ xa. Quản lý đào tạo 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Quản lý đào tạo” có thể được định nghĩa như là bất kỳ công việc quản lý nào phục vụ cho quá trình đào tạo.
Đây là một định nghĩa rộng và rõ ràng là vượt ra ngoài công tác quản lý giảng dạy rất nhiều. Ví dụ, công tác tuyển sinh là một phần của quá trình đào tạo và cần phải được quản lý, nhưng lại không liên quan gì đến giảng dạy. Quản lý đào tạo (theo nghĩa rộng) là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội theo kế hoạch nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội. Quản lý đào tạo là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp quản lý khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành ổn định của các trường học và cơ sở đào tạo trong hệ thống giáo dục đào tạo nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đào tạo của Nhà nước.
Quản lý đào tạo cũng có rất nhiều quan niệm khác nhau ở nhiều cấp độ. Có hai cấp độ chủ yếu là cấp vĩ mô và cấp vi mô. - Cấp quản lý vĩ mô tương ứng với quản lý một đối tượng có quy mô lớn nhất, bao quát toàn bộ hệ thống. Nhưng trong hệ thống này lại có nhiều hệ thống con người, tương ứng với hệ thống con người này có hoạt động quản lý vi mô.
Sự thực việc phân chia quản lý vĩ mô và quản lý vi mô chỉ là tương đối. Điều quan trọng là khi xem xét vấn đề quản lý phải xác định chủ thể quản lý đang ở cấp độ nào. Từ đó mới thấy được mối tương quan trên dưới, vĩ mô và vi mô. * Đối với cấp vĩ mô.
- Quản lý đào tạo được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở đào tạo là nhà 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo.