Tổng quan nghiên cứu
Chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh đang là xu thế tất yếu toàn cầu nhằm đảm bảo phát triển bền vững trước áp lực cạn kiệt tài nguyên và biến đổi khí hậu. Tại Việt Nam, Quyết định số 1393/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 đã đặt ra mục tiêu giảm cường độ phát thải khí nhà kính từ 8% đến 10% so với mức năm 2010, đồng thời giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP từ 1% đến 1,5% mỗi năm. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 theo Quyết định số 630/QĐ-TTg đã giao nhiệm vụ cho ngành dạy nghề phải đào tạo 23,5 triệu người vào năm 2015 (chiếm 40% tổng số lao động qua đào tạo) và đạt 34,4 triệu người vào năm 2020 (chiếm 55% lao động qua đào tạo, trong đó trình độ cao đẳng nghề và trung cấp nghề đạt 23%).
Vấn đề then chốt đặt ra là làm thế nào để lực lượng lao động qua đào tạo nghề đáp ứng chính xác các yêu cầu của việc làm xanh. Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý nhà nước ở cấp Trung ương do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Tổng cục Dạy nghề thực hiện. Phạm vi nghiên cứu khảo sát thực trạng đến năm 2013 và định hướng chiến lược đến năm 2020, thực hiện tại cơ quan quản lý Trung ương và 30 trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề trên toàn quốc. Đề tài mang ý nghĩa tiên phong khi hệ thống hóa cơ sở lý luận và giải quyết bài toán quản lý vĩ mô đối với đào tạo nhân lực kỹ thuật phục vụ tăng trưởng xanh tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý giáo dục hiện đại tiếp cận theo 4 chức năng cốt lõi: kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo điều hành và kiểm tra. Theo đó, quản lý nhà nước về đào tạo nghề ở cấp Trung ương là sự vận hành quyền lực công thông qua hệ thống 11 nội dung quản lý quy định tại Điều 83 Luật Dạy nghề năm 2006.
Khung lý thuyết của luận văn tích hợp định nghĩa về việc làm xanh của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), phân định việc làm xanh thành 2 nhóm chính: việc làm xanh thuần túy (các nghề môi trường chuyên biệt như xử lý chất thải, năng lượng tái tạo) và việc làm xanh hóa (các nghề truyền thống được cải tiến quy trình công nghệ để tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải). Năng lực xanh của người lao động được xác định gồm 3 thành tố: kiến thức sinh thái, kỹ năng thực hành công nghệ sạch và thái độ trách nhiệm với môi trường. Kinh nghiệm quốc tế từ chương trình JOBSTARTER tại Đức (bổ sung 6.000 người học nghề xanh năm 2009) và gói kích cầu 38,5 tỷ USD tạo 956.000 việc làm xanh của Hàn Quốc được sử dụng làm cơ sở đối sánh.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ hơn 15 văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược quốc gia và các báo cáo chuyên ngành giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2006-2013. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu khảo sát và phỏng vấn chuyên gia tại Tổng cục Dạy nghề cùng 30 cơ sở đào tạo nghề đại diện cho các vùng kinh tế trọng điểm.
Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 30 trường cao đẳng nghề và trung cấp nghề được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích phân tầng. Phương pháp này bảo đảm sự đại diện đồng đều giữa các nhóm ngành kỹ thuật, công nghệ, nông nghiệp và dịch vụ, đồng thời phản ánh đúng các điều kiện địa lý từ miền Bắc, miền Trung đến miền Nam. Phương pháp phân tích thống kê mô tả và tổng hợp so sánh được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác mức độ sẵn sàng của các cơ sở đào tạo, làm rõ khoảng cách giữa chính sách quản lý Trung ương và năng lực triển khai thực tế của hệ thống dạy nghề đến năm 2020.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, nhu cầu nhân lực kỹ thuật cho việc làm xanh tại Việt Nam gia tăng nhanh chóng theo các chỉ tiêu tăng trưởng xanh, đặc biệt là mục tiêu 80% cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn môi trường và 50% doanh nghiệp áp dụng công nghệ sạch vào năm 2020. Tuy nhiên, hơn 75% cơ sở đào tạo nghề được khảo sát chưa từng xây dựng hoặc tích hợp mô-đun năng lực xanh vào chương trình giảng dạy chính quy.
Thứ hai, cơ cấu nhu cầu lao động xanh có sự phân hóa rõ rệt: việc làm xanh thuần túy chỉ chiếm khoảng 15% đến 20%, trong khi việc làm xanh hóa chiếm tới 80% đến 85% tổng nhu cầu thị trường lao động. Dù vậy, hệ thống danh mục nghề quốc gia thời điểm nghiên cứu có 0 tiêu chuẩn kỹ năng nghề nào quy định bắt buộc về tiêu chí xanh.
Thứ ba, công tác quản lý Trung ương còn phân tán khi Tổng cục Dạy nghề chưa thiết lập bộ phận chuyên trách về việc làm xanh. Khoảng 68% cơ sở đào tạo nghề phản ánh rằng trang thiết bị thực hành bị lạc hậu từ 5 đến 10 năm so với công nghệ xanh đang vận hành tại các doanh nghiệp sản xuất thực tế.
+-------------------------------------------------------------------------+
| HIỆN TRẠNG SẴN SÀNG ĐÀO TẠO NGHỀ XANH |
+-------------------------------------------------------------------------+
| Tiêu chí đánh giá | Tỷ lệ ghi nhận thực tế |
+------------------------------------------+------------------------------+
| Cơ sở chưa tích hợp mô-đun năng lực xanh | 75% tổng số trường khảo sát |
| Tỷ trọng nhu cầu việc làm xanh hóa | 80% - 85% nhu cầu thị trường |
| Tỷ trọng nhu cầu việc làm xanh thuần túy | 15% - 20% nhu cầu thị trường |
| Thiết bị thực hành lạc hậu 5-10 năm | 68% cơ sở phản ánh |
| Tiêu chuẩn kỹ năng nghề có tiêu chí xanh | 0 tiêu chuẩn (trước 2014) |
+-------------------------------------------------------------------------+
Thảo luận kết quả
Sự thiếu hụt lao động có kỹ năng xanh bắt nguồn từ khoảng trống trong quản lý chiến lược và cơ chế phối hợp liên ngành. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chưa xây dựng được quy chuẩn kỹ năng xanh chung để liên kết với Bộ Tài nguyên và Môi trường hay Bộ Công Thương.
Dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cột so sánh cung - cầu nhân lực kỹ thuật xanh và biểu đồ radar đánh giá 4 khía cạnh: nhận thức quản lý, chương trình đào tạo, năng lực giảng viên và cơ sở vật chất. So với mô hình đào tạo kép của Đức vốn gắn kết 100% tiêu chuẩn môi trường vào từng nghề thủ công và công nghiệp, hệ thống dạy nghề Việt Nam còn thiếu cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia cùng trường nghề. Sự chậm trễ trong chuẩn hóa khung chương trình dẫn đến nguy cơ người học tốt nghiệp không đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi công nghệ sạch của 50% đô thị loại III và loại IV theo lộ trình quốc gia đến năm 2020.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện kế hoạch hóa chiến lược phát triển mạng lưới đào tạo nghề xanh. Cơ quan quản lý Trung ương cần ban hành Quy hoạch phát triển đào tạo nghề đáp ứng việc làm xanh giai đoạn 2015-2020, đặt chỉ tiêu 100% cơ sở đào tạo nghề trọng điểm quốc gia triển khai giảng dạy mô-đun xanh hóa vào năm 2018. Tổng cục Dạy nghề giữ vai trò chủ trì điều phối.
Thứ hai, chuẩn hóa chương trình và khung trình độ kỹ năng nghề xanh. Thực hiện rà soát, xanh hóa 100% chương trình đào tạo trung cấp và cao đẳng nghề thuộc các lĩnh vực năng lượng, xây dựng, giao thông, nông nghiệp trước năm 2017. Xây dựng và ban hành chuẩn kỹ năng nghề xanh cho tối thiểu 15 nghề trọng điểm quốc gia.
Thứ ba, nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và đầu tư cơ sở vật chất đồng bộ. Đặt mục tiêu bồi dưỡng năng lực xanh cho ít nhất 80% giáo viên dạy nghề kỹ thuật trong giai đoạn 2016-2020. Thiết lập cơ chế ưu đãi thuế để huy động các doanh nghiệp sản xuất sạch tài trợ từ 30% đến 40% kinh phí thực hành và thiết bị hiện đại cho các trường nghề.
Thứ tư, đổi mới công tác thanh tra, kiểm định chất lượng đào tạo nghề. Tổng cục Dạy nghề cần xây dựng bộ tiêu chí kiểm định chất lượng đào tạo nghề xanh, thực hiện đánh giá định kỳ 100% chương trình nghề xanh mới từ năm 2017, đảm bảo chuẩn đầu ra đáp ứng tiêu chuẩn tuyển dụng của thị trường lao động.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp. Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận và các đề xuất thể chế để xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về kỹ năng nghề xanh.
Nhóm thứ hai là ban giám hiệu, trưởng khoa và giảng viên tại hơn 400 trường cao đẳng, trung cấp nghề trên toàn quốc. Các đơn vị này có thể vận dụng trực tiếp quy trình xanh hóa giáo trình và xây dựng mô hình liên kết đào tạo với doanh nghiệp sinh thái.
Nhóm thứ ba là các nhà nghiên cứu, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học chuẩn mực với khung phân tích 4 chức năng quản lý gắn liền mục tiêu phát triển bền vững.
Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp công nghiệp, xây dựng, năng lượng tái tạo và các tổ chức phát triển quốc tế. Đây là nguồn dữ liệu thực chứng hữu ích để xây dựng các dự án hỗ trợ kỹ thuật và đơn đặt hàng đào tạo nhân lực theo tiêu chuẩn việc làm xanh.
Câu hỏi thường gặp
Việc làm xanh được phân loại như thế nào trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp?
Việc làm xanh gồm 2 loại: việc làm xanh thuần túy trong các ngành bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo (chiếm 15% đến 20% nhu cầu) và việc làm xanh hóa trong các ngành nghề truyền thống được điều chỉnh quy trình sạch (chiếm 80% đến 85% nhu cầu).
Năng lực xanh bao gồm những yếu tố cốt lõi nào?
Năng lực xanh gồm 3 thành tố: kiến thức bảo vệ môi trường và sử dụng năng lượng hiệu quả; kỹ năng vận hành công nghệ sạch, xử lý chất thải; cùng thái độ tuân thủ nghiêm ngặt các quy chuẩn an toàn sinh thái tại nơi làm việc.
Vì sao cơ quan quản lý Trung ương cần can thiệp vào đào tạo nghề xanh?
Cơ quan quản lý Trung ương định hướng quy hoạch mạng lưới, ban hành chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và điều phối nguồn lực tài chính, đảm bảo mục tiêu đào tạo 34,4 triệu lao động đến năm 2020 đồng bộ với Chiến lược tăng trưởng xanh.
Xanh hóa chương trình đào tạo nghề hiện có được thực hiện ra sao?
Quy trình thực hiện bằng cách phân tích vị trí việc làm thực tế, xác định các khoảng trống về kỹ năng môi trường, sau đó tích hợp linh hoạt các mô-đun công nghệ sạch vào giáo trình hiện hành mà không làm xáo trộn cấu trúc khung nghề.
Kinh nghiệm quốc tế nào có thể ứng dụng hiệu quả tại Việt Nam?
Việt Nam có thể áp dụng mô hình tích hợp nội dung bảo vệ môi trường vào tiêu chuẩn nghề của Đức (chương trình JOBSTARTER với 6.000 người học) và chính sách gắn kết trường nghề với các dự án phục hồi sinh thái trọng điểm như bài học từ Hàn Quốc.
Kết luận
- Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu việc làm xanh theo 4 chức năng quản lý khoa học.
- Phân tích toàn diện thực trạng nhu cầu nhân lực kỹ thuật, gắn kết trực tiếp với mục tiêu đào tạo 34,4 triệu lao động theo Quyết định số 630/QĐ-TTg và các chỉ tiêu giảm phát thải của Quyết định số 1393/QĐ-TTg.
- Chỉ rõ 4 điểm nghẽn thực tiễn tại 30 cơ sở dạy nghề về chương trình đào tạo, năng lực giảng viên, cơ sở vật chất và cơ chế phối hợp liên ngành.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp quản lý cấp Trung ương có tính khả thi cao, phân kỳ lộ trình rõ ràng từ năm 2015 đến năm 2020.
- Xác định lộ trình tiếp theo cần tập trung ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề xanh quốc gia trong giai đoạn 2016-2018 và mở rộng kiểm định chất lượng toàn diện đến năm 2020.
Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần sớm khai thác kết quả nghiên cứu này để xây dựng chương trình hành động cụ thể, góp phần cung ứng nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cho công cuộc phát triển kinh tế xanh của đất nước.