CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ ĐÁP ỨNG NHU CẦU LAO ĐỘNG CHO VIỆC LÀM XANH 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Một số nghiên cứu của nước ngoài: Năm 2010, Trung tâm Phát triển Dạy nghề châu Âu (Cedefop) đã tiến hành nghiên cứu “Green skills and environmental awareness in TVET” (Kỹ năng xanh và nhận thức về môi trường ở hệ thống giáo dục dạy nghề) nhằm xác định kỹ năng hiện tại - tương lai và nhu cầu đào tạo cho người lao động trong chín ngành nghề mũi nhọn chịu tác động do sự chuyển đổi nền kinh tế “xanh” và sử dụng tài nguyên hiệu quả. Nghiên cứu này được thực hiện tại tám nước châu Âu: Phần Lan, Đức, Hy Lạp, Hungary, Ý, Hà Lan, Slovakia và Anh. Mục tiêu của nghiên cứu là xác định những thách thức và ưu tiên cho các kỹ năng “xanh” để đảm bảo rằng giáo dục và hệ thống đào tạo nghề có thể đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp và lợi ích từ việc chuyển đổi để đạt tăng trưởng bền vững và toàn diện.
Nghiên cứu tiến hành các cuộc phỏng vấn với các chuyên gia từ các tổ chức sử dụng lao động và các nhà cung cấp đào tạo… phân tích các dữ liệu thứ cấp viết báo cáo cho mỗi quốc gia và một báo cáo tổng hợp của châu Âu. Năm 2012-2013 Viện Nghiên cứu Giáo dục Hồng Kông triển khai nghiên cứu “Education and Skill development for inclusive development and green jobs” (Giáo dục và Kỹ năng cho Tăng trưởng toàn diện và Việc làm xanh) (theo yêu cầu của ADB) với mục tiêu nâng cao tri thức và năng lực nhằm giúp quá trình giáo dục và đào tạo kỹ năng nghề phù hợp với việc làmxanh của 4 nước (gồm Ấn Độ, Sri Lanka, Inđônêxia và Việt Nam). Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu phương thức mà 4 nước áp dụng để ban hành các chính sách, chiến lược phát triển kỹ năng kịp thời và hiệu quả nhất, khảo sát tìm hiểu thực trạng và nhu cầu về kỹ năng xanh trong một số ngành công 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp: Xây dựng, Giao thông vận tải, Khách sạn, nhà hàng, du lịch, Xử lý rác thải và Năng lượng tái tạo; Đánh giá sự đáp ứng của các cơ sở đào tạo đối với nhu cầu của ngành và sự tăng trưởng xanh; Đề xuất giải pháp hướng tới việc thúc đẩy đào tạo kỹ năng nghề xanh trong các ngành nghề đáp ứng nhu cầu việc làm xanh của nền kinh tế. Dự án nghiên cứu “Inclusive Transitions to Green Economies through TVET in Post 2015” - (Sự chuyển dịch toàn diện sang các nền kinh tế xanh thông qua đào tạo nghề từ năm 2015) do UNESCO/UNEVOC thực hiện.
Năm 2014 UNESCO đã đặt vị trí của giáo dục dạy nghề trong chương trình nghị sự kể từ năm 2015 để tìm các cách thúc đẩy hệ thống giáo dục và đào tạo, nâng cao năng lực cho người học có khả năng giải quyết những thách thức trong tương lai và trở nên có trách nhiệm tham gia thành viên của xã hội. Dự án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo kỹ năng có được trong quá trình học tập không chỉ đáp ứng yêu cầu công việc mà còn thúc đẩy sự phát triển nghề nghiệp và cá nhân suốt đời. Một số nghiên cứu trong nước Hiện nay mới chỉ có rất ít những nghiên cứu được thực hiện có nội dung liên quan đến quản lý đào tạo nghề đáp ứng việc làm xanh. Một số ít nghiên cứu trong nước có nội dung liên quan bao gồm: Đề tài cấp Bộ do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện năm 2013-2014: “Các giải pháp thúc đẩy việc làm xanh ở Việt Nam”.
Đề tài đã nghiên cứu tổng quan về kinh tế xanh, việc làm xanh và các nhân tố tác động đến việc phát triển việc làm xanh. Dựa trên thực trạng đã phân tích, đề tài đưa ra những đánh giá chung về thực trạng việc làm xanh của Việt Nam: những hạn chế, rào cản để thúc đẩy phát triển việc làm xanh từ đó đề xuất các giải pháp, các chính sách phát triển ngành và xanh hóa; thúc đẩy kinh tế xanh, khuyến khích doanh nghiệp sử dụng các công nghệ hiện đại, tiết kiệm năng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lượng và thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó từ kinh nghiệm quốc tế trong nghiên cứu phát triển việc làm xanh để rút ra bài học để đề xuất các giải pháp ở Việt Nam.Tuy vậy, thực trạng việc làm xanh trong đề tài này chỉ dựa trên số liệu về việc làm xanh trong ngành bảo vệ môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường trong ngành công nghiệp và dịch vụ bởi chưa có bất kỳ cuộc điều tra, khảo sát nào về việc làm xanh.Vì thế các số liệu thống kê này chưa mang tính bao quát, đại diện để đánh giá đầy đủ số lượng, cơ cấu, chất lượng việc làm xanh trong cả nền kinh tế. Đề tài “Chuyển đổi sang nền kinh tế xanh ở một số nước EU và gợi mở cho Việt Nam” thực hiện năm 2012 (Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội) với các nội dung: Trình bày những lý luận chung về nền kinh tế xanh, khái quát chung về xu hướng chuyển đổi sang nền kinh tế xanh ở EU bao gồm: bối cảnh ban đầu của xu thế chuyển đổi, thực trạng chuyển đổi sang nền kinh tế xanh ở một số nước EU, lộ trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, các yếu tố tác động đến việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh.
Nghiên cứu trường hợp: chuyển đổi sang kinh tế xanh ở Đức. Từ những kết quả nghiên cứu về chuyển đổi sang kinh tế xanh ở EU, đưa ra một số gợi mở chuyển đổi kinh tế theo hướng xanh của Việt Nam Đề tài “Đổi mới quản lý nhà trường giáo dục nghề nghiệp trong quá trình hội nhập quốc tế” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thực hiện năm 2011-2012 với nội dung nghiên cứu đổi mới quản lý nhà trường trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo định hướng quản lý chất lượng, tiếp cận với các mô hình và các giải pháp quản lý chất lượng nhà trường hiện đại phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam, đảm bảo hội nhập quốc tế. Cụ thể là tiếp cận với mô hình quản lý chất lượng tổng thể để đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng nhà trường của hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Đề tài “Cơ sở khoa học của việc điều chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong quá trình hội nhập quốc tế” thuộc chương trình 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu khoa học cấp Bộ – Bộ Giáo dục- Đào tạo giai đoạn 2006- 2008 “Phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”, nội dung nghiên cứu: Những vấn đề lí luận về cơ cấu hệ thống GDNN; Kinh nghiệm một số nước về cơ cấu hệ thống GDNN;- Một số dự báo về cơ cấu nhân lực kĩ thuật và yêu cầu điều chỉnh cơ cấu hệ thống GD nghề nghiệp ở Việt Nam và Định hướng điều chỉnh cơ cấu hệ thống GDNN ở Việt Nam (trình độ, loại hình,.) trong quá trình hội nhập quốc tế.
Những khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý nhà nước 1. Quản lý Có nhiều cách tiếp cận khái niệm quản lý. Với cách tiếp cận quản lý là quản lý tổ chức của con người, hoạt động của con người, tác giả lựa chọn cách hiểu quản lý như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý (người quản lý) theo kế hoạch chủ động và phù hợp với quy luật khách quan tới khách thể quản lý (người bị quản lý) nhằm tạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại, ổn định và phát triển của tổ chức.
Nói cách khác, bản chất của quản lý là hoạt động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu. Đa số các tác giả nghiên cứu về quản lý tiếp cận theo chức năng quản lý. Chức năng quản lý là các dạng hoạt động xác định được chuyên môn hoá, nhờ đó chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý. Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý.
Có nhiều quan điểm khác nhau về phân chia chức năng quản lý. Tuy nhiên, cách tiếp cận được thống nhất bởi đa số các học giả đó là quản lý có 4 chức năng cơ bản, bao gồm: chức năng kế hoạch hóa, chức năng tổ chức, chức năng lãnh đạo điều hành,và chức năng kiểm tra [Nguyễn Thị Mỹ Lộc chủ biên, 2012]. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kế hoạch hóa Kiểm tra Thông tin Tổ chức Lãnh đạo điều Hình 1.1: Các chức năng trong quản lý Kế hoạch hóa Kế hoạch hóa là quá trình xác định mục tiêu hành động và các hoạt động cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa đó là xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức, xác định và đảm bảo về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu, và quyết định những hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu đó.
Tổ chức Tổ chức là quá trình giao nhiệm vụ, phân bổ nguồn lực, xác định các mối liên hệ phối hợp giữa các thành viên hoặc một nhóm các thành viên của hệ thống/tổ chức để triển khai kế hoạch. Thông qua công tác tổ chức, nhà quản lý sẽ đưa các kế hoạch vào thực tế hành động bằng cách xác định, chỉ định nhiệm vụ cho các thành viên của tổ chức và hỗ trợ họ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Lãnh đạo, điều hành Lãnh đạo là quá trình tác động nhằm tăng sự nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và hướng những cố gắng của họ tới việc thực hiện nhiệm vụ và đạt được mục tiêu theo kế hoạch. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều hành là quá trình các nhà quản lý sử dụng quyền lực của mình (quyền lực tổ chức, quyền lực cá nhân) để buộc những người trong hệ thống thực hiện theo những đường hướng mình mong muốn.
Đồng thời, thông qua điều hành, nhà quản lý xây dựng những cam kết, thực hiện các hành động khuyến khích hỗ trợ cho các thành viên của tổ chức để họ thực hiện tốt nhất công việc được giao [Shermerhorn, 1999]. Hoạt động lãnh đạo, điều hành được thực hiện thông qua các chính sách, thủ tục, quy định.