Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC Ở TRẺ 5 - 6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON THEO HƯỚNG VÌ SỰ TIẾN BỘ CỦA TRẺ 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Một số nghiên cứu về đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo và trẻ 5 - 6 tuổi Nghiên cứu về đánh giá sự phát triển của trẻ mẫu giáo và trẻ 5 - 6 tuổi đến nay đã được một số tác giả trong nước và trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Theo Carol Seefeldt (2005) thì Bộ chuẩn học tập và phát triển trẻ em của Mỹ thể hiện các mục tiêu cho sự phát triển của trẻ, phản ánh cách nhìn nhận, đánh giá và được đề nghị thực hiện của phần lớn người dân, tổ chức và cộng đồng trong tiểu bang Washington.
Carol Seefeldt nhấn mạnh việc học của trẻ nhỏ là đa chiều theo sự phát triển về thể lực, tình cảm, kĩ năng xã hội, ngôn ngữ, nhận thức… Bộ chuẩn được sử dụng như một công cụ cho việc thảo luận, đối thoại và chia sẻ giữa các gia đình, chuyên gia giáo dục và cộng đồng [42]. Nội dung của bộ chuẩn được chia thành năm lĩnh vực: Lĩnh vực phát triển thể lực: nhấn mạnh đến yếu tố sức khỏe thể lực và khả năng tham gia các hoạt động hàng ngày của trẻ. Lĩnh vực phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội: nhấn mạnh khả năng xúc cảm và hình thành thái độ trong các mối quan hệ (thường là các mối quan hệ tại gia đình, trường học, và cộng đồng). Lĩnh vực học tập: nhấn mạnh năng lực tổ chức của trẻ để phù hợp cho việc tham gia việc học và đạt được kiến thức.
Lĩnh vực nhận thức và kiến thức chung: nhấn mạnh khả năng hiểu biết và suy nghĩ về thế giới tự nhiên và xã hội của trẻ. Trẻ khám phá môi trường xung quanh là điều rất quan trọng, nhờ có sự khám phá đó kiến thức, tư duy logic, toán học… của trẻ phát triển 7 Lĩnh vực ngôn ngữ, khả năng đọc viết và giao tiếp: nhấn mạnh khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng đọc và viết, khả năng giao tiếp hiệu quả. Trong nghiên cứu của Stacie G. Goffin (2004) đã đưa ra vai trò của đánh giá thời thơ ấu là một công cụ được sử dụng để thu thập và cung cấp cho các nhà giáo dục, phụ huynh và gia đình những thông tin quan trọng về sự phát triển và trưởng thành của trẻ.
Ở Massachusetts, các chương trình MN được cấp phép hiện nay được yêu cầu phải bao gồm một phần đánh giá trẻ em trong chương trình của họ [50]. Snow and Susan B. Cả hai phương pháp đều hiệu quả và có thể giúp thông báo cho các nhà giáo dục và phụ huynh về sự tiến bộ của trẻ [43]. Snow and Susan B.
Van Hemel (2008) đã đưa ra: Quan sát và ghi lại công việc và thành tích của trẻ trong suốt một năm cho phép nhà giáo dục tích lũy hồ sơ về sự tăng trưởng và phát triển của trẻ. Với thông tin này, các nhà giáo dục có thể bắt đầu lập kế hoạch chương trình giảng dạy phù hợp và hướng dẫn cá nhân hiệu quả cho từng trẻ. Hồ sơ đánh giá này cũng là một công cụ để chia sẻ với phụ huynh để họ có thể theo dõi sự tiến bộ của con mình ở trường, hiểu điểm mạnh và thách thức của con mình, đồng thời lập kế hoạch về cách họ có thể giúp mở rộng việc học ở nhà [43]. Trong chương trình Trẻ em khỏe của Bộ Y tế (2009) đã đưa ra, Đánh giá phát triển là quá trình lập bản đồ thành tích của một đứa trẻ so với những đứa trẻ cùng độ tuổi.
Nhóm so sánh được lấy từ một mẫu đại diện của dân số mà đứa trẻ xuất thân. Một số yếu tố góp phần vào hiệu suất rất khác nhau giữa các nhóm dân số khác nhau. Trong một xã hội đa văn hóa, việc tìm ra các tiêu chuẩn phù hợp cho các yêu cầu này có thể là một thách thức [Trích theo 30]. 8 Theo Williams AN, Essex C (2004), vai trò của giám sát phát triển quan sát cách con bạn phát triển và thay đổi theo thời gian và liệu con bạn có đáp ứng các mốc phát triển điển hình trong việc chơi, học, nói, cư xử và di chuyển hay không.
Cha mẹ, ông bà, người chăm sóc trẻ nhỏ (GV) và những người chăm sóc trẻ thường xuyên khác có thể tham gia theo dõi sự phát triển. GV có thể sử dụng một danh sách kiểm tra ngắn gọn về các mốc quan trọng để xem trẻ đang phát triển như thế nào. Nếu GV nhận thấy rằng trẻ không đạt được các mốc quan trọng, có thể trao đổi với gia đình và tìm phương hướng khắc phục” [51]. Blanchard LT, Gurka MJ, Blackman JA (2006) cho rằng: Sự phát triển điển hình được xác định bằng việc đạt được các mốc cụ thể về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, cảm xúc xã hội và hành vi chịu ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử, văn hóa, di truyền và môi trường.
Lý thuyết phát triển trong lịch sử đã bao hàm cả lý thuyết về những thay đổi phát triển liên tục (chậm, dần dần) và sự phát triển không liên tục (theo từng bước và với các giai đoạn tăng trưởng nhanh), đồng thời nhấn mạnh sự hiện diện của cả hai giai đoạn quan trọng và nhạy cảm. Giai đoạn quan trọng là khoảng thời gian riêng biệt trong đó một chức năng cụ thể phát triển khiến việc phát triển các chức năng này sau này trở nên khó khăn hoặc thậm chí không thể thực hiện được. Ví dụ, năm năm đầu đời được coi là giai đoạn đặc biệt quan trọng để tiếp thu ngôn ngữ. Mặt khác, giai đoạn nhạy cảm mô tả thời điểm mà trẻ em dễ dàng đạt được một số kỹ năng nhất định, nhưng giai đoạn bắt đầu/bù trừ của giai đoạn này diễn ra dần dần và không phải là không thể đạt được theo khung thời gian này.
Một ví dụ về điều này là trẻ nhỏ dễ dàng tiếp thu ngôn ngữ thứ hai khi được tiếp xúc. Tuy nhiên, những ngôn ngữ tương tự này chắc chắn có thể được học sau này trong cuộc sống [41]. Đánh giá phát triển là quá trình lập bản đồ thành tích học tập so với trẻ cùng độ tuổi. Phát triển là quá trình mỗi đứa trẻ tiến hóa từ tuổi thơ bất lực đến tuổi trưởng thành độc lập.
9 Tăng trưởng và phát triển của não và hệ thần kinh trung ương thường được gọi là sự phát triển tâm thần vận động và thường được chia thành bốn lĩnh vực chính: • Kỹ năng vận động • Khả năng nói và ngôn ngữ • Xã hội và cá nhân và các hoạt động của cuộc sống hàng ngày • Hiệu suất và nhận thức. Sự phát triển não bộ của thai nhi bắt đầu từ tuần thứ tư của thai kỳ phát triển nhanh ở giai đoạn nằm trong bụng mẹ và giai đoạn đầu thời thơ ấu. Sự phát triển não bộ là một quá trình phức tạp, có ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Ở giai đoạn từ 5-6 tuổi, yếu tố thể chất và vận động quan trọng, chi phối sự phát triển trí tuệ của trẻ.
Kỹ năng vận động có sự liên kết chặt chẽ với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ (như bập bẹ, chỉ vào các sự vật,.); Liên quan đến nhận thức (khám phá môi trường mới.) các kỹ năng xã hội (bắt tay, ôm.) phát triển xúc cảm (cười mỉm, cười lớn. Do đó, khi trẻ đến trường, GV cần tăng cường cho trẻ vận động, khám phá. Khi ĐGKQ phát triển nhận thức ở trẻ 5-6 tuổi, GV cần lưu ý đánh giá ảnh hưởng thêm khả năng vận động, khám phá của từng trẻ. Theo Maria Montessory, sự phát triển của trẻ phụ thuộc nhiều vào sự phát triển tâm lý và vận động của cơ thể.
Muốn trẻ phát triển sự tự tin, dũng cảm phải quan tâm đến yếu tố tâm lý. Muốn trẻ khỏe mạnh, khéo léo thực hiện các hoạt động hay hoàn thành công việc nhỏ được giao, cần chú ý đến rèn luyện thân thể. Vận động và phát triển tâm lý có ảnh hưởng qua lại, bổ sung cho nhau cùng phát triển. Vì thế muốn trẻ phát triển toàn diện phải quan tâm đồng thời cả 2 yếu tố trên [47].
Tại Hàn Quốc, hệ thống giáo dục ở Hàn Quốc là “giáo dục phụ mẫu”. Cuối mỗi học kỳ, từng gia đình đăng ký để họp một buổi riêng với cô giáo phụ trách. Tương tự ở Singarore, theo quy định bắt buộc, hằng tháng phải có 10 sự giao lưu giữa GV và phụ huynh. Trong những buổi gặp đó, GV thông báo, trao đổi cặn kẽ với bố mẹ về tất cả kết quả học tập cũng như các vấn đề của trẻ.
Điều đó, GVMN ở Hàn Quốc, Singapore sẽ phải thường xuyên thu thập thông tin về những khả năng của trẻ trong đó khả năng nhận thức, học tập cua trẻ để trao đổi với phụ huynh nhằm phối hợp cùng nhau chăm sóc, giáo dục trẻ một cách phù hợp, hiệu quả [Dẫn theo 33]. Mục đích đánh giá trẻ ở trường mầm non là hướng tới xác định nhu cầu, hứng thú và khả năng của từng trẻ. Từ kết quả đánh giá này, GV biết chọn lựa những hoạt động thích hợp với từng trẻ. Sự phát triển của trẻ phần nào phản ánh những điểm mạnh và điểm yếu trong việc chăm sóc, giáo dục của GV với trẻ.
Do đó, kết quả đánh giá là tấm gương phản chiếu để GV nhìn lại năng lực của bản thân và điều chỉnh việc tổ chức hoạt động giáo dục cho phù hợp với trẻ [1]. Theo tác giả Lê Bích Ngọc [28], một trong những mục đích sử dụng của Bộ chuẩn là làm cơ sở để thiết kế và sử dụng bộ công cụ theo dõi sự phát triển của trẻ, tuy nhiên hiện nay mới chỉ có những bộ công cụ chuẩn hóa, do các nhà nghiên cứu tâm lí học, giáo dục học đưa ra. Những bộ công cụ này đòi hỏi kỹ thuật sử dụng chặt chẽ, vì vậy khó cung ứng vào giáo dục trẻ em năm tuổi thông qua tác động của các hoạt động giáo dục. Vì thế tác giả đã tiến hành nghiên cứu thiết kế bộ công cụ phi chuẩn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu của GV, khắc phục những khó khăn trong giáo dục MN hiện nay.
Tác giả đã đưa ra 8 bước để thiết kế bộ công cụ phi chuẩn hóa: 1. Lựa chọn chỉ số cần theo dõi, 2. Tìm hiểu minh chứng của chỉ số, 3. Lựa chọn phương pháp theo dõi, 4.
Xác định phương tiện theo dõi, 5. Hướng dẫn theo dõi, 6. Xác định thời gian theo dõi, 7. Thử công cụ theo dõi, 8.
Hoàn chỉnh công cụ theo dõi.