MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức. Việc nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, công ty, gia đình và cá nhân. ĐTTT chính là giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này.
Ngày nay công nghệ ĐTTT đã góp phần đổi mới cả phương thức dạy và học. ĐTTT đã đáp ứng những tiêu chí giáo dục mới mà từ trước tới nay chưa từng được áp dụng đó là: có thể học mọi nơi, học mọi lúc, học theo sở thích, học suốt đời,… ĐTTT không chỉ dùng cho GDTX qua mạng mà sẽ cùng tồn tại với cách học tập truyền thống và bổ sung cho cách học truyền thống. ĐTTT đã trở thành một xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức và đã tạo ra một cuộc cách mạng về dạy học. ĐTTT mang lại hiệu quả kinh tế cao và đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nước trên thế giới.
Nhiều trường đại học có danh tiếng trên thế giới đã chọn ĐTTT như một chiến lược định hướng phát triển. Chỉ với một giáo viên hoặc một chuyên gia giỏi có thể giảng dạy cho một số lượng lớn người học. Với mỗi khóa ĐTTT có thể dễ dàng mời giáo viên, chuyên gia nước ngoài giảng dạy từ xa nên giảm được chi phí… Như vậy, ĐTTT góp phần mở rộng quy mô đào tạo, làm giảm bất bình đẳng về cơ hội học tập giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị, giúp giáo dục Việt Nam hội nhập với nền giáo dục thế giới. ĐTTT cũng thay đổi cách tiếp cận và lĩnh hội tri thức so với mô hình học tập truyền thống.
Các hoạt động học tập, nghiên cứu, thảo luận, chia sẻ kiến thức trên mạng mang lại cho người học sự hứng thú, sáng tạo và chủ động. Ở nước ta, ĐTTT đã và đang được triển khai, thử nghiệm ở một số trường Đại học và cũng đã thu được những kết quả nhất định song vẫn có những khó khăn trong quá trình thiết kế học liệu; đánh giá chương trình; ĐGKQHT của học 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com viên; cài đặt và ứng dụng các công cụ quản lý trong ĐTTT, v. Đặc biệt phải kể đến những khó khăn về công tác quản lý ĐTTT và ĐGKQHT của học viên. Để góp phần giải quyết một số tồn tại trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Biện pháp quản lý công tác ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý công tác ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội. Giả thuyết khoa học Nếu đề ra được các biện pháp quản lý công tác ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT phù hợp với các yêu cầu và khả năng thực tế của trường thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội. Nhiệm vụ nghiên cứu a. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT.
Nghiên cứu thực trạng công tác ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội, từ đó phân tích các ưu, nhược điểm trong công tác quản lý hoạt động này. Đề xuất một số biện pháp quản lý công tác ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội 5. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu Khách thể: Công tác ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý công tác ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội.
2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu lý luận: nghiên cứu hệ thống lý luận về quản lý và lý luận về ĐGKQHT của học viên. Ứng dụng CNTT&TT trong ĐTTT. Nghiên cứu thực tiễn: Nghiên cứu trạng quản quản lý công tác đánh giá KQHT của học viên ở trường ĐHSP Hà Nội, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý công tác đánh giá KQHT của học viên trong ĐTTT.
Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu công tác quản lý việc ĐGKQHT của học viên trong ĐTTT ở trường ĐHSP Hà Nội. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ KQHT CỦA HỌC VIÊN TRONG ĐTTT 1. Sơ lƣợc về lịch sử phát triển ĐTTT 1. Trên thế giới Theo tác giả Natalie Aranda [2], khi nền giáo dục thay đổi môi trường dạy học như thay đổi lớp học trước đây chỉ học cố định một chỗ, ĐTTX đã bắt đầu ra đời.
Ý tưởng về GDTX có thể được vạch ra bởi kỹ thuật in ấn. Từ rất sớm, việc in ấn đã trở thành phương thức thúc đẩy học tập, sinh viên có thể tự học theo kế hoạch riêng của mình mà không có sự trợ giúp của người hướng dẫn. Sự tự giúp đỡ bản thân đơn giản này là một trong những ví dụ về ĐTTX. Khi các công nghệ tiến bộ hơn xuất hiện ra đã tạo ra khả năng mở rộng hơn cho ĐTTX.
Khi đài phát thanh (Radio) trở nên thông dụng, khả năng cung cấp kiến thức qua phương tiện trung gian này đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Tivi là một lợi thế cơ bản đã được sử dụng trong ĐTTX. Sự phát triển của một mạng lưới Tivi khép kín trở nên phù hợp với mô hình lớp học chỉ với một giáo viên tại chỗ và các sinh viên ở nhiều địa điểm, được và phủ sóng trên phạm vi rộng. Trở ngại của phương thức đào tạo này là sinh viên phải sẵn sàng học vào giờ phát sóng [2].
Tiếp theo đó là sự xuất hiện của máy tính và sự phát triển của Internet đã mang chúng ta đến với thời kỳ vàng hiện nay của ĐTTX. GDTX thực tế đã bắt đầu với sự xuất hiện của “Trung tâm học tập với sự trợ giúp của máy tính” (CALC: Computer Assisted Learning Center) vào năm 1982 ở Rindge, New Hampshire. Đây là trường học trực tuyến đầu tiên ở Mỹ mặc dù cũng có một chương trình khác tương tự đang được thử nghiệm ở Na- Uy vào cùng thời điểm. Từ 1994 - 1995, khi Internet đã trở nên phổ biến rộng rãi chỉ từ một mô hình nhỏ ban đầu của các nhà cung cấp Internet nội bộ, nhờ đó GDTT đã thực sự trở nên bùng nổ [2].
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giai đoạn đầu là sự giới thiệu các lớp học trực tuyến riêng biệt. Các lớp học này dự định cung cấp cho các khu trường sở (Campus) và không thay thế chúng. Đã có sự miễn cưỡng khi cải cách giáo dục để không thay đổi các phương pháp dạy học truyền thống và sự miễn cưỡng này vẫn tồn tại kéo dài trong một số trường hợp. Tuy vậy, các lợi ích của GDTT ngày càng trở nên rỡ ràng hơn.
Ngay bây giờ, một chương trình cấp bằng trực tuyến có thể dễ dàng được tìm thấy từ các trường cao đẳng, các trường chuyên nghiệp (Collesges). Hiện nay, các cơ hội từ GDTT tăng nhanh mỗi ngày và bằng cấp trực tuyến đã được những người sử dụng lao động đón nhận một cách tự nhiên cũng như Internet đã trở nên hòa nhập vào cuộc sống thường ngày [2]. Cũng theo tác giả Natalie Aranda [1], E-Learning là một thuật ngữ rất rộng. Nó thường được sử dụng để mô tả môi trường dạy học có sử dụng máy tính.
Có rất nhiều công nghệ có thể dùng cho E-Learning. Đào tạo từ xa là một thuật ngữ đã được rút ra từ E-Learning. Thuật ngữ ĐTTX được sử dụng để mô tả một môi trường học tập mà địa điểm lớp học thay đổi so với lớp học truyền thống và trường sở. E-Learning đã được bắt đầu cũng vào khoảng thời gian máy tính được phát triển cho nhu cầu thực hành cá nhân.
Trên thực tế, ý tưởng và thực hành về ĐTTX xảy ra trước thời kỳ của máy tính hầu như 100 năm. Ở Anh, vào năm 1840, các lớp học tốc ký đã được đề xuất bởi các khóa học tương tự qua thư tín. Sự phát triển của dịch vụ bưu điện đã làm cho phương thức của ĐTTX này thông dụng ở giai đoạn đầu thế kỷ trước. Phương thức này đã dẫn đến một số lượng lớn các chương trình giáo dục “thông qua thư tín”.
Máy tính chỉ duy nhất làm cho ĐTTX dễ dàng hơn và tốt hơn. Tivi, máy Video, và thậm chí Radio tất cả đã góp phần thúc đẩy ĐTTX phát triển [1]. Trong những năm gần đây, sự phát triển của công nghệ E-Learning và khả năng tạo một lớp học ảo và một môi trường học tập ảo (VLE: Virtual Learning Environment) đã dần phá vỡ sự miễn cưỡng vẫn còn tồn tại khi 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuyển từ mô hình giáo dục truyền thống sang E-Learning với sự trợ giúp đắc lực của máy tính và hệ thống CNTT&TT. Theo tổ chức Thomson NETg [39], các làn sóng phát triển của E- Learning được chia thành các giai đoạn như sau: Các làn sóng của E-Learning Làn sóng thứ 1 Làn sóng thứ 2 Kỷ nguyên dạy học có Kỷ nguyên /E-Learning /E-Learning người hướng dẫn /Sử Đa phương tiện /sự thông tin đồng bộ /phần mềm xã hội dụng văn bản dựa trên 1984 - 1993 1994 - 1999 2000 - 2005 thảo luận máy tính Hình 1: Các làn sóng của E-Learning Giai đoạn trước năm 1983: Trước khi máy tính được phổ biến rộng rãi, đào tạo có người hướng dẫn (ILT: Instructor-Led Training) là phương thức đào tạo chính.
ILT cho phép các sinh viên rời khỏi văn phòng làm việc để tập trung vào học tập, tương tác với người hướng dẫn và các bạn cùng lớp. Dù sao ITL cũng có nghĩa là chi phí cao và lãng phí thời gian làm việc chính trong giờ hành chính, dẫn đầu là các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo để tìm kiếm một con đường đào tạo tốt hơn. Kỷ nguyên đa phương tiện (1984-1993): Máy tính cùng với hệ điều hành Windows 3.1, Macintosh, CD-ROMs, Powerpoint. Đây là những lợi thế của kỷ nguyên đa phương tiện.
Trong một nỗ lực để làm cho đào tạo có thể di chuyển được hơn và hấp dẫn trực quan hơn, các khóa đào tạo dựa trên máy tính (CBT: Computer-Based Training) đã được triển khai bằng CD-ROM. Sự tiện lợi của CD-ROM mọi lúc, mọi nơi đã làm giảm chi phí mà ILT chưa làm được, giúp phục hồi lại kỹ nghệ đào tạo. Mặc dù có những lợi ích rõ ràng, các khóa học CD-ROM còn thiếu sự tương tác của 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người hướng dẫn và sự trình diễn động - làm giảm sự tập trung của sinh viên. Làn sóng thứ nhất của E-Learning (1994-1999): được phát triển dựa trên Web.
Các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo bắt đầu thăm dò công nghệ mới này.