Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý đại lý BHNT của doanh nghiệp BHNT. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý đại lý BHNT tại Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Vietinbank Aviva. Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đại lý BHNT tại Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Vietinbank Aviva. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐẠI LÝ BẢO HIỂM NHÂN THỌ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình, bài viết đã công bố liên quan đến đề tài BHNT có vai trò rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển kinh tế của các quốc gia. Về mặt lý luận, nhiều trường đại học đã có khoa và giáo trình chuyên môn đào tạo tri thức, kỹ năng cho người hành nghề BHNT. Các doanh nghiệp BHNT lớn đã xây dựng các chương trình đào tạo kỹ năng cho đại lý BHNT của họ như: Lưu Thị Thu Thủy (2010) với đề tài luận văn thạc sĩ Phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam thời kỳ hậu WTO, trường Đại học Thương Mại đã tập trung nghiên cứu thực trạng thị trường BHNT Việt Nam trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO liên quan đến các nhân tố cấu thành nên thị trường như: các nhà cung cấp, các kênh phân phối, sản phẩm và khách hàng.
Từ đó, tác giả đề xuất giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam thời kỳ hậu WTO. Nguyễn Đức Tuấn (2008) với bài viết Thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam - Thực trạng và triển vọng trên trang Cẩm nang BH/ Bộ Tài chính, số 2, năm 2008 đã phân tích thực trạng của thị trường BHNT Việt Nam trên các khía cạnh: sản phẩm, kênh phân phối và năng lực tài chính. Đồng thời, tác giả chỉ ra những thách thức và triển vọng của thị trường BHNT Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra các định hướng của Bảo Việt Nhân thọ trong việc phát triển thị trường.
Bài viết Một số giải pháp góp phần hoàn thiện chế độ bảo hiểm của tác giả Bùi Ngọc Thanh (2013) trên trang Cổng thông tin điện tử Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã chỉ ra một số nguyên nhân gây trở ngại trong việc thực hiện BH như: “Có không ít người hiểu không đúng bản chất của chế độ BH, họ coi tiền đóng BH là thứ của để đành”, mình và người sử dụng lao động đóng được bao nhiêu thì phải tìm cách hướng cả bấy nhiêu, hưởng cho bằng hết mới thỏa lòng. Trên thực tế không phải như thế, có người đóng lâu dài nhưng rất khi hưởng, thậm chí có người đóng suốt cả một đời làm việc mà không khi nào hưởng trợ cấp (đó là một số lao động doanh nghiệp nhà nước); ngược lại có những người 6 z thời gian tham gia BH chưa dài lắm nhưng đã hưởng trợ cấp một số lần. Qua đó tác giả cũng kiến nghị một số giải pháp có tính thực tế. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Hải (2012) với đề tài Hoàn thiện quản lý và phát triển lực lượng đại lý tại Công ty Bảo hiểm nhân thọ Bến Tre, trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã phân tích thực trạng quản lý và phát triển đại lý tại Công ty BHNT Bến Tre cho thấy, bên cạnh nhiều kết quả đạt được đáng khích lệ như tuyển thêm được nhiều đại lý mới, bước đầu chuẩn hoá đội ngũ đại lý, vận dụng chính sách của công ty để quản lý đại lý, đưa hoạt động của đại lý dần đi vào quy củ,.
nhưng so với yêu cầu hoạt động quản lý và phát triển đại lý ở Công ty còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp quản lý và phát triển lực lượng đại lý như: Công ty cần cải tiến công tác tuyển và lựa chọn đại lý theo hướng đi đôi với phát triển đại lý phải chú trọng đúng mức đến chất lượng và chuẩn hoá đại lý, tăng cường đào tạo nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng cho đại lý, đổi mới tổ chức, giám sát, phối họp nhằm tạo khung khổ cho đại lý phát huy sức mạnh của cá nhân và nhóm, vận dụng chính sách đãi ngộ và hỗ trợ hợp lý theo hướng vừa khuyến khích thu nhập, vừa tạo tình cảm, quan hệ gắn bó giữa đại lý và Công ty,. Qua đó, tác giả đã làm nổi bật nên vai trò quan trọng của công tác quản lý và phát triển đại lý càng có ý nghĩa quan trọng trên bước đường phát triển bền vững của các doanh nghiệp BH. Các khoảng trống và hướng nghiên cứu Tất cả các công trình trên đã tiến hành nghiên cứu về nhiều khía cạnh có liên quan đến BHNT và đại lý BHNT.
Nhìn chung, các nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề sau: - Khái niệm, nội dung, mô tả công việc, vai trò và đạo đức làm nghề của đại lý BH nói chung cho tất cả các nghiệp vụ BH; - Phạm vi công việc và tính pháp lý của người đại lý BH; Mặc dù có khá nhiều công trình liên quan đến đề tài nghiên cứu nhưng các công trình này trong quá trình thực hiện mới giải quyết được vấn đề phát triển thị trường BHNT hoặc là vấn đề khai thác và phát triển đại lý BHNT theo hướng kỹ thuật nghiệp vụ. Song đối với vấn đề quản lý đại lý BHNT chưa thấy có công trình cũng như bài viết nào nghiên cứu về nội dung này. Bên cạnh đó, còn một lý do khác xuất phát từ đơn vị tác giả đang công tác - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Vietinbank Aviva, một doanh 7 z nghiệp BHNT có tuổi đời rất non trẻ trong số 18 doanh nghiệp cùng lĩnh vực tại thị trường BHNT ở Việt Nam. Do vậy, đề tài “Quản lý đại lý bảo hiểm nhân thọ tại Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Vietinbank Aviva” sẽ là hướng nghiên cứu mới góp phần giúp hoàn thiện công tác quản lý đại lý BHNT tại Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Vietinbank Aviva nói riêng và tại các doanh nghiệp BHNT nói chung để đáp ứng yêu cầu và điều kiện thực tế.
Cơ sở lý luận về đại lý bảo hiểm nhân thọ 1. Bảo hiểm nhân thọ và đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ 1. Khái niệm BHNT ra đời nhằm BH cho rủi ro có liên quan đến tuổi thọ của con người bao gồm hai sự kiện trái ngược nhau là sống hoặc tử vong. BHNT có đối tượng tham gia đa dạng cùng nhiều hình thức và ở các lứa tuổi khác nhau.
Tuy đã trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu đời, song cho tới nay vẫn có nhiều khái niệm khác nhau về BHNT. Trong giáo trình Bảo hiểm, tác giả Nguyễn Văn Định (2008) cho rằng, thực tế BHNT là sự cam kết giữa công ty BH với người tham gia BH (người được BH) trong đó công ty BH có trách nhiệm trả cho người tham gia BH (người được BH) một khoản tiền nhất định khi có những sự kiện định trước xảy ra (người được BH bị chết, thương tật toàn bộ vĩnh viễn, ốm đau, tai nạn hay còn sống đến một thời điểm chỉ rõ trong hợp đồng). Còn người tham gia BH có trách nhiệm nộp phí BH đầy đủ và đúng hạn. Tuy nhiên, đứng trên phương diện pháp lý: BHNT là bản hợp đồng trong đó để nhận được phí BH của người tham gia BH (người ký hợp đồng) thì người BH cam kết sẽ trả cho một người hay nhiều người thụ hưởng BH một số tiền nhất định (đó là số tiền BH hay một khoản trợ cấp định kỳ) trong trường hợp người được BH bị tử vong hay sống đến một thời điểm ghi rõ trên hợp đồng (Luật Kinh doanh BH, 2010).
Hay nói cách khác, BHNT là quá trình BH các rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ con người. Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ - BHNT vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính bảo vệ Sở dĩ nói BHNT vừa mang tính tiết kiệm, vừa mang tính bảo vệ tức là khi một người, một nhóm người tham gia BHNT như một hình thức tiết kiệm dài hạn, họ hoặc người thân 8 z của họ sẽ được chi trả tiền BH khi họ không may gặp rủi ro trong thời hạn BH ấn định hoặc khi đáo hạn hợp đồng. - BHNT đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau của người tham gia BH Trong khi các nghiệp vụ BH phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia BH gặp sự cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia thì BHNT đáp ứng được nhiều mục đích như: + Hợp đồng bảo hiểm hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu của người tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp phần ổn định cuộc sống khi họ già yếu. + Hợp đồng bảo hiểm tử vong sẽ giúp người được BH để lại cho gia đình một khoản là số tiền BH khi họ bị tử vong.
Số tiền này sẽ đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau của người quá cố như: trang trải nợ nần, giáo dục con cái,. + Hợp đồng BHNT đôi khi còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn hoặc BHNT tín dụng thường được bán cho các đối tượng đi vay để họ mua xe hơi, đồ dùng gia đình,. - Hợp đồng trong BHNT có tính đa dạng và phức tạp Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng BHNT thể hiện ngay ở các sản phẩm của nó. Mỗi sản phẩm BHNT có nhiều loại hợp đồng khác nhau như: BHNT hỗn hợp 5 năm, 10 năm.
Mỗi hợp đồng với mỗi thời hạn khác nhau lại có sự khác nhau về số tiền BH, phương thức đóng phí, độ tuổi người tham gia,. Ngay cả trong một bản hợp đồng, mối quan hệ giữa các bên rất phức tạp, đó là các mối quan hệ qua lại giữa 4 bên tham gia: Người BH, người được BH, người tham gia BH và người hưởng thụ quyền lợi BH. - Quá trình định phí BHNT khá phức tạp Sản phẩm BHNT là kết quả của một tiến trình đầy đủ để đưa sản phẩm đến công chúng. Trong tiến trình này, nhà BH phải bỏ ra rất nhiều chi phí để tạo nên sản phẩm như: chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng.