Chương 1: Cơ sở lý thuyết về bảo hiểm phi nhân thọ và quan lý đại lý bảo hiểm phi nhân thọ Chương 2: Thực trạng quản lý đại lý bảo hiểm phi nhân thọ tại Tổng công ty cỗ phần bảo hiểm Quân đội MIC Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đại lý bảo hiểm phi nhân thọ tại Tổng công ty cỗ phan bao hiểm Quân đội MIC. Do giới hạn về thời gian, kiến thức thực tế và kinh nghiệm còn hạn chế nên chuyên đề sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, chỉnh sửa từ thầy cô giáo và cán bộ nhân viên Tổng công ty bảo hiểm Quân đội dé chuyên đề của em hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn Ths.Bùi Quỳnh Anh và các cán bộ, nhân viên của Tổng công ty bảo hiểm Quân đội đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em đề hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
CHUONG I: CƠ SỞ LÍ THUYET VE BẢO HIEM PHI NHÂN THỌ VA QUAN LÝ ĐẠI LÝ BẢO HIEM PHI NHÂN THỌ 1. Một số nội dung cơ bản về bảo hiểm phi nhân thọ 1. Khái niệm về bảo hiểm và bảo hiểm phi nhân thọ * Bảo hiểm: Theo Dennis Kessler: Bảo hiém là sự đóng góp của sô đông vào sự bat hạnh của sô ít. Theo Monique Gaullier: Bao hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn dé cho mình hoặc dé cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tốn that được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm.
Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê. Theo Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ: bảo hiểm là một cơ chế theo đó một cá nhân, công ty hoặc nhóm chuyên giao rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty này sau đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm, được bảo vệ bởi bảo hiểm đối với các tôn thất thuộc phạm vi bao hiém va tong số tiền ton that được chia cho tat cả những người được bảo hiểm. Luật KDBH của Việt Nam (2000): Bảo hiểm là một loại hoạt động mà tại đó những người tham gia có quyền được hưởng các khoản trợ cấp bảo hiểm. Thông qua việc đóng góp một khoản cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro ngoài ý muốn, bảo hiểm sẽ hỗ trợ chi trả một phan nào đó.
Khoản trợ cấp này sẽ do một tổ chức cụ thể có trách nhiệm thực hiện việc đền bù về thiệt hạn cho người tham gia bảo hiểm theo chế độ cụ thể. * Bảo hiểm phi nhân thọ: Bảo hiểm phi nhân thọ là loại hình bảo hiểm bao gồm các rủi ro liên quan đên sức khỏe, tài sản và trách nhiệm pháp lý của con người. Trong bảo hiêm PNT, thời hạn bảo hiểm thường là một năm. Đặc điểm cơ bản của bảo hiểm phi nhân thọ 4 * Đặc diém chung: Bảo hiểm PNT nói riêng và bảo hiểm nói chung có đặc trưng là ngành dịch vụ đặc biệt.
Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vô hình Về bản chất, SPBH là một dịch vụ, một sự bảo đảm hay một cam kết mà nhà cung cấp bảo hiểm cung cấp cho khách hàng. Khách hang trả phi dé đôi lay sự đảm bảo thanh toán hoặc hoàn trả trong tương lai. Người mua SPBH không thể mô tả được màu sắc, hình dáng, kích thước, mùi vi của sản phẩm, khác với người mua sản phẩm hữu hình, có thể cảm nhận được bằng giác quan. Ngoài ra, họ không thê phát hiện thông qua các giác quan như năm, chạm, giữ hoặc nêm.
Dé vượt qua những trở ngại này và củng c6 niềm tin của khách hàng, các công ty bảo hiểm nỗ lực làm cho sản phẩm của họ trở nên hữu hình hơn. Dé làm được điều nay, ho tập trung vào các lợi ích liên quan đến dịch vụ, thuê những cá nhân nổi tiếng, có uy tín làm tuyên truyền viên, tao mạng lưới đại lý chuyên nghiệp, nâng cao vai trò của các sáng kiến tiếp thi,. Vi vậy, niềm tin và dich vụ khách hàng chất lượng là chìa khóa để bán SPBH. Bảo hiểm có chu trình kinh doanh ngược: Trái ngược với chu kỳ sản xuất hàng hóa điển hình, trong đó chi phi sản xuất được biết trước khi định giá.
Do đó, các công ty sản xuất hàng hóa hữu hình trước tiên phải đầu tư vốn, mua máy móc và nguyên liệu thô, thuê nhân công dé tạo ra hàng hóa và hoàn thành quá trình đưa những hàng hóa đó đến tay khách hàng. Khi sản phẩm đó được ban, doanh nghiệp sẽ nhận lại được tiền, bao gồm cả số vốn bỏ ra ban đầu và lợi nhuận mà nó kiếm được. Do nhận trước phí bảo hiểm từ người tham gia bảo hiểm và thực hiện trách nhiệm sau này đối với người được bảo hiểm khi xảy ra sự có bảo hiểm nên doanh nghiệp bảo hiểm không phải bỏ vốn trước. Do đó, tại thời điểm bán sản phẩm, không thé xác định chính xác hiệu quả của sản phâm bao hiém.
Một hợp đồng bảo hiểm thường được coi là có hiệu lực ngay sau khi được công ty bảo hiểm chấp nhận và người được bảo hiểm đã thanh toán toàn bộ phí bảo hiểm theo yêu cầu của hợp đồng. Giá bán hợp đồng bảo hiểm là phí bảo hiểm mà khách hàng phải đóng khi giao kết hợp đồng. Việc lựa chọn loại sản phẩm nào để tung ra thị trường bị ảnh hưởng đáng kể bởi đặc điểm này. Công ty bảo hiểm sẽ nhận được một khoản phi bảo hiểm rất lớn nếu một sản phẩm được nhiều khách hàng chấp nhận.
Nhà cung cấp bảo hiểm có thể quản lý đề thực hiện thanh toán khi rủi ro liên quan đến khách hàng cụ thê mà không vượt quá ngân sách. Mặt khác, nếu ít khách hàng đồng ý thì tổng phí thu được là không đáng kể. Nếu nhóm khách hàng cụ thé đó có tỷ lệ rủi ro trên doanh thu quá cao trong khi các hợp đồng bảo hiểm vẫn còn hiệu lực, thì công ty bảo hiểm sẽ nhanh chóng rơi vao tình thế không thê trang trải chi phí. Mặt khác, khi ai đó được bảo hiểm, chu kỳ kinh doanh đảo ngược cũng có tác động quy định trách nhiệm pháp lý để ngăn họ mắt tiền.
Bởi nếu tỷ lệ thất thoát cao, khách hàng sẽ phải trả phí lớn hơn trong những năm tiếp theo; ngược lại, nếu tỷ lệ ton thất thấp thi giá bán các hợp đồng bảo hiểm bán ra năm sau sẽ giảm (tức là khách hàng sẽ giảm). Tâm lý người mua hàng không muốn tiêu dùng dịch vụ này: Mặc dù, quyên lợi đó có thê nhiêu hơn gâp bội lân so với sô phí phải đóng nhưng người mua bảo hiém không mong muôn có sự kiện rủi ro xảy ra đê được nhận quyên lợi bảo hiém. Tâm lý có ảnh hưởng đến thủ tục mua SPBH. Người mua nói chung không muốn thảo luận về rủi ro hoặc nhìn thấy rõ ràng tác động của những rủi ro có thé được bảo hiểm vi nó bị quy định bởi phong tục và ý tưởng có thể mang yếu tố tâm linh mạnh mẽ.
trong tinh trạng mat năng lực hoặc bảo hiểm tử vong. Ngược lại, khách hàng xem việc mua một SPBH giống như có được một tam bùa hộ mệnh sẽ mang lại cho họ sự an toàn về tài chính nếu điều không tưởng xảy ra và làm tăng mức độ bình yên về tinh thần của họ. Người ban cũng dễ có quan niệm đáp ứng và thỏa mãn yêu cầu của khách hàng mà không suy nghĩ kỹ dé lựa chon và phân tích các rủi ro tiêm ân. Các đại lý bảo hiểm phải nhận thức được khía cạnh này khi thực hiện một giao dich dich vụ dé thuyết phục những khách hàng cho rang họ không quan tâm đến rủi ro và không muốn rủi ro xảy ra với họ.
Rốt cuộc, tất cả chúng ta đều muốn tránh rủi ro và thiệt hại. Mặt khác, bảo hiểm hoạt động như một rao cản đối với những điều không mong muốn này. Dé minh họa giá trị của bảo hiểm và sự cân thiệt của việc tham gia bảo hiêm, thực tê vê thiên tai, tai nạn và giai quyêt 6 khiếu nại tôn that tại địa phương sẽ được sử dung. * Đặc điểm riêng: BHPNT có các đặc điểm khác biệt cơ bản sau đây ngoài các đặc điểm bảo hiểm chung nêu trên: - Các hợp đồng BHPNT có thời hạn bảo hiểm thường là một năm hoặc ít hơn.
(chăng hạn như bảo hiểm cho một chuyển đi hoạt động từ A đến B hoặc một chuyến đi ngắn ngày.) - Chỉ khi rủi ro được bảo hiểm xảy ra trong thời gian hiệu lực của hợp đồng thì hợp đồng BHPNT mới thực hiện việc bồi thường và quỹ bảo hiểm. - Phí BHPNT được xác định trong suốt thời gian bảo hiểm, thường là theo từng hành trình hoặc theo năm bảo hiểm. Chi phí phí bảo hiểm trong những năm tiếp theo có thé thay đổi. Chi phí BHPNT dựa trên mức độ nguy hiểm.
-Trừ các nghiệp vụ bảo hiểm PNT, còn các nghiệp vụ khác như tài sản, trách nhiệm dân sự giữa Người bảo hiểm, Người được bảo hiểm và Người thứ ba có liên quan tới rủi ro bảo hiểm đều có mối quan hệ về quyền lợi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Các loại bảo hiểm phi nhân thọ Bảo hiểm PNT bao gồm: - Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại - Bảo hiểm hàng hóa vận chuyền đường bộ, đường biên, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không - Bảo hiểm hàng không - Bảo hiểm xe cơ giới - Bảo hiểm cháy nỗ - Bảo hiểm thân tàu và trách nhiêm dân sự của chủ tàu - Bảo hiêm trách nhiệm - Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính - Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh - Bảo hiểm nông nghiệp 1. Một số nội dung cơ bản về đại lý bảo hiểm Theo đó, tại Điều 85 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 quy định về nội dung hoạt động đại ly bao hiém, bao gôm các nội dung sau: Dai ly bảo hiểm có thể được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền tiến hành các hoạt động sau đây: - Giới thiệu, chào bán bảo hiểm; - Thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm; - Thu phí bảo hiểm; - Thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; - Thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm.