Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về quản lý hoạt động cứu trợ lương thực từ nguồn dự trữ quốc gia Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng công tác quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỨU TRỢ LƢƠNG THỰC TỪ NGUỒN DỰ TRỮ QUỐC GIA 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến cứu trợ xã hội nói chung Vấn đề cứu trợ xã hội đã được nhiều người nghiên cứu trên phạm vi cả nước cũng như từng địa phương.
Trong số các công trình liên quan đến cứu trợ xã hội nói chung có các công trình tiêu biểu sau: - “Trợ giúp xã hội thường xuyên ở tỉnh Thái Bình hiện nay” (2012) của Bùi Thị Thanh Huyền, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn tổng quan và làm rõ hơn cơ s ở lý luận về trợ giúp xã hội thường xuyên. Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên (những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế) trên địa bàn tỉnh Thái Bình từ năm 2007 đến năm 2011. Đề xuất những giải pháp để triển khai thực hiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên trong giai đoạn 2010-2020 [26].
- “Hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam” (2011) của Nguyễn Bích Ngọc, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận và giới thiệu kinh nghiệm quốc tế về trợ giúp xã hội thường xuyên. Làm rõ hơn sự cần thiết của hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội. Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam và chỉ rõ các vấn đề đặt ra cần được giải quyết.
Đưa ra một số định hướng và kiến nghị những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh hoạt động trợ giúp thường xuyên ở Việt Nam [31]. 5 - “Công tác cứu trợ xã hội ở một tỉnh miền Trung: Kinh nghiệm và khó khăn” (2008) của Trương Đình Đức đăng trên Tạp chí Lao động - Xã hội số 331. Bài viết về công tác cứu trợ xã hội ở một tỉnh miền Trung; phân tích khó khăn của địa phương trong công tác cứu trợ xã hội, đồng thời rút ra một số kinh nghiệm cho công tác cứu trợ xã hội [21]. - “Pháp luật Việt Nam về cứu trợ xã hội” (2010) của Nguyễn Thị Thu Hà, Luận văn Thạc sỹ Luật kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động CTXH như khái niệm, bản chất, nội dung, … Từ đó, có cái nhìn tổng quan về CTXH nói riêng và an sinh xã hội nói chung. Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định về CTXH với các nội dung cơ bản như đối tượng CTXH, điều kiện hưởng CTXH, tổ chức thực hiện…Đồng thời, chỉ ra những kết quả đạt được cũng như các nội dung còn hạn chế của pháp luật hiện hành về CTXH cần được hoàn thiện. Từ những kết quả rút ra được khi nghiên cứu và phân tích thực trạng về pháp luật CTXH, tác giả đưa ra những giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật quan trọng này [23]. - “Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng ở Việt Nam” (2011) của Nguyễn Ngọc Toản, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân.
Luận án nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên cộng đồng. Đánh giá thực trạng và nhu cầu trợ giúp của đối tượng cộng đồng ở Việt Nam giai đoạn hiện nay. Từ đó, rút ra những vấn đề cần đổi mới và hoàn thiện [43]. Những nghiên cứu về hoạt động DTQG Các công trình nghiên cứu về hoạt động DTQG có: - “Đổi mới hoạt động dự trữ quốc gia trong cơ chế thị trường ở Việt Nam” (2004) của Nguyễn Ngọc Long, Luận án Tiến sỹ kinh tế, trường Đại học Kinh tế quốc dân.
Luận án nghiên cứu những vấn đề cơ bản về DTQG và 6 hoạt động DTQG trong nền kinh tế quốc dân; phân tích thực trạng hoạt động DTQG ở Việt Nam; đưa ra phương hướng, giải pháp đổi mới hoạt động DTQG [28]. - “Vai trò của dự trữ quốc gia trong việc bảo đảm an sinh xã hội” (2009) của Phạm Phan Dũng đăng trên Tạp chí Cộng sản số 799. Bài viết nghiên cứu về vai trò của hoạt động DTQG trong việc bảo đảm an sinh xã hội, cụ thể trong việc xuất cấp hàng DTQG cứu trợ các địa phương cũng như hỗ trợ các dự án theo chính sách của Nhà nước [18]. - “Hoàn thiện cơ chế quản lý Nhà nước về dự trữ quốc gia ở Việt Nam” (2014) của Trần Quốc Thao, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Luận văn hệ thống hoá cơ sở lý luận của sự hình thành DTQG, cơ chế quản lý nhà nước về DTQG; xác định những nội dung cơ bản của DTQG trong cơ chế thị trường, những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động DTQG, cơ chế quản lý nhà nước về DTQG. Phân tích toàn diện cơ chế quản lý nhà nước về DTQG, chỉ rõ những ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với DTQG. Đề xuất một số quan điểm, phương hướng, giải pháp và điều kiện để góp phầnhoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về DTQG ở Việt Nam [37]. Kết quả nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu * Kết quả nghiên cứu Các công trình trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của vấn đề cứu trợ xã hội; trong đó tập trung làm rõ vai trò, sự cần thiết và tác động của công tác cứu trợ xã hội đối với Việt Nam và các địa phương trong cả nước; phân tích chính sách về cứu trợ xã hội (trong đó có cứu trợ lương thực), phân tích hiệu quả của công tác cứu trợ xã hội.
Từ đó, tìm kiếm các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác cứu trợ xã hội. 7 Một số công trình tập trung phân tích vai trò của DTQG, cơ chế quản lý DTQG và cũng đã tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu để đổi mới hoạt động DTQG ở Việt Nam, cũng như hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về DTQG. Đó là nguồn tài liệu quý báu để tôi kế thừa và phát triển. * Khoảng trống nghiên cứu Vấn đề cứu trợ lương thực và quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục DTNN cho đến nay vẫn còn là khoảng trống nghiên cứu.
Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động cứu trợ lương thực tại Tổng cục Dự trữ Nhà nước” để thực hiện Luận văn Thạc sỹ, chuyên ngành Quản lý kinh tế. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động cứu trợ lƣơng thực từ nguồn dự trữ quốc gia 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về dự trữ, dự trữ quốc gia, hoạt động dự trữ quốc gia *Dự trữ Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Dự trữ là toàn bộ những nguồn vốn hay giá trị mà một chủ thể kinh tế hay Nhà nước dành ra dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ để phòng ngừa và khắc phục có hiệu quả các tổn thất do tai biến bất ngờ gây ra đối với sản xuất, đời sống hoặc để đảm bảo cho sự liên tục không bị gián đoạn trong sản xuất kinh doanh [45].
Theo Từ điển Tiếng Việt: Dự trữ là trữ sẵn để dùng khi cần đến [33]. *Dự trữ quốc gia Dự trữ quốc gia (hay DTNN) là dự trữ của một đất nước - một quốc gia mà bất cứ một quốc gia nào cũng phải có. Tuy nhiên, dự trữ quốc gia là gì? Cũng có những khái niệm khác nhau: Dự trữ quốc gia, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam là dự trữ của một nước, do Nhà nước nắm giữ và quản lý, bao gồm dự trữ các vật tư hàng hoá quan trọng nhất, các loại vàng bạc, đá quý, ngoại tệ, tiền chưa phát hành. Là 8 quỹ dự trữ lớn nhất, nhằm mục đích khắc phục những tổn thất do thiên tai, địch họa gây ra trên quy mô lớn, trong một thời gian nhất định, dự trữ quốc gia là nguồn tích luỹ của quốc gia, là sức mạnh của đất nước [45].
Giáo trình kinh tế thương mại, trường Đại học Kinh tế quốc dân thì cho rằng: DTQG là một dạng dự trữ đặc biệt của hàng hoá. Dự trữ này do Nhà nước quy định bảo đảm các nhu cầu của nền kinh tế quốc dân khi có thiên tai, chiến tranh và có sự biến động của thị trường. Hay trong giáo trình về quản lý kinh tế của Khoa Quản lý kinh tế - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng: “Quỹ DTQG là một phần của cải vật chất của Nhà nước được tích lũy thành lực lượng dự phòng chiến lược để sử dụng vào mục đích phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, phục vụ an ninh quốc phòng và thực hiện các nhiệm vụ khác của Chính phủ” mà “hàng hoá đưa vào quỹ DTQG là những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho sản xuất, đời sống và an ninh quốc phòng”. Luật dự trữ quốc gia được Quốc hội (Khoá XIII) thông qua ngày 20/11/2012.
Điều 4 Khoản 1 ghi rõ: Dự trữ quốc gia là dự trữ vật tư, thiết bị, hàng hóa do Nhà nước quản lý, nắm giữ. Mục tiêu của dự trữ quốc gia: Nhà nước hình thành, sử dụng DTQG nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh (Điều 3 Luật dự trữ quốc gia). Tình huống đột xuất, cấp bách là tình trạng thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh có nguy cơ bùng phát trên diện rộng; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; trật tự an toàn xã hội cần được giải quyết ngay(Điều 4 Luật dự trữ quốc gia) [47].