Phần mở đầu : giới thiệu chung về đề tài Chương 2. Tổng quan tài liệu và cơ sở lý luận : Đưa ra lí thuyết nền tảng cho việc phân tích ở các chương 4 và những kết luận, kiến nghị được đề xuất ở chương 5. Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp luận để thể hiện độ tin cậy cho bài viết. Phân tích : Đưa ra thực trạng chuổi cung ứng tại doanh nghiệp Chương 5.
Kết luận và kiến nghị: Đưa ra những nhận xét đánh giá từ những phẩn tích từ chương 4. Tài liệu tham khảo: Trích nguồn và những tài liệu giúp hoàn thành bài phân tích. Nguyễn Ý Vy Trang 3 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Bảy Chương 2.
Tổng quan tài liệu và cơ sở lí luận 2. Một số khái niệm liên quan về chuỗi cung ứng 2. Khái niệm về chuỗi cung ứng Một khái niệm về chuỗi cung ứng (supply chain) xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX nói rằng: “Chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường” (Lambert và Cooper, 2000). Ngoài ra thì theo Chopra Sunil và PterMendl thì: Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng. Supplychain management: strategy, planing and operation (2001, Upper Saddle Riverm NI: Prentice Hall c. Theo Ganeshan & Harrison thì : Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn về phân phối và các phương tiện để thực hiện thu mua nguyên liệu, biến đổi các nguyên liệu này qua khâu trung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay người tiêu dùng. Một định nghĩa khác theo Lee & Billington thì cho rằng “Chuỗi cung ứng là hệ thống các công cụ để chuyển hoá nguyên liệu thô từ bán thành phẩm tới thành phẩm, chuyển tới người tiêu dùng thông qua hệ thống phân phối”.
Tóm lại, khái niệm chuỗi cung ứng đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, không những vậy còn được coi là một tài sản chiến lược cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên thuật ngữ này vẫn còn khá mới mẽ và lạ lẫm đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Qua từng thời kì, từng giai đoạn được chú trọng những yếu tố khác nhau, như việc chú trọng về các quyết định trong tuyến trình thực hiện chuỗi – trong định nghĩa của Ganeshan & Harrison hay là đề cao yếu tố công Nguyễn Ý Vy Trang 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Bảy cụ trong khái niệm của Lee & Billington.
Mặc dù, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật ngày nay thì việc số hóa chuỗi cung ứng ngày càng được quan tâm và phát triển hơn bao giờ hết. Nhưng nhìn chung thì “chuỗi cung ứng” là sự phối hợp nhịp nhàng của sản xuất, tồn kho, địa điểm và vận chuyển giữa các thành viên trong chuỗi nhằm đáp ứng hiệu quả các nhu cầu của thị trường. Khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng Supply Chain Management bao gồm cả: Marketing, phát triển sản phẩm mới, tài chính & dịch vụ khách hàng (customer service)” theo sách “Essential of Supply Chain Management” của Michael Hugos. Hội đồng các chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng (The Council of Supply Chain Management Professionals - CSCMP) đã định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng như sau: Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động lên kế hoạch và quản trị liên quan đến nguồn cung ứng, thầu, chuyển đổi và các hoạt động quản lý hậu cần (logistics management).
Quan trọng không kém là nó cũng bao gồm sự phối hợp là liên kết với các kênh đối tác như là các bên cung cấp, bên trung gian, nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba, và khách hàng. Về bản chất, quản trị chuỗi cung ứng tích hợp quản trị cung và cầu bên trong và bên ngoài các công ty. Quản trị chuỗi cung ứng là một chức năng tích hợp với trách nhiệm chính cho doanh trong các công ty thành một mô hình kinh doanh gắn kết và hiệu suất cao. Nó bao gồm toàn bộ các hoạt động quản lý hậu cần đã đề cấp phía trên, cũng như các hoạt động chế tác, và nó thúc đẩy các quá trình và hoạt động hợp tác với mảng marketing, bán hàng, thiết kế sản phẩm, tài chính và công nghệ thông tin.
Nguyễn Ý Vy Trang 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Bảy - Tổng quan mô hình chuỗi cung ứng: o Một chuỗi cung ứng cơ bản bao gồm: nhà cung cấp nguyên liệu, nhà sản xuất, nhà phân phối,đại lí bán lẻ, khách hàng. Ngoài dòng nguyên vật liệu và sản phẩm, chuổi cung ứng còn có sự tham gia của dòng thông tin và dòng vốn giữa các thành phần. Mô hình tổng quan chuỗi cung ứng (Nguồn: Quản lý chuỗi cung ứng – Thiết kế, hoạch đinh và vận hành – Peter Meindl).
o Mô hình chuỗi cung ứng liên kết được thể hiện ở sơ đồ bên dưới bằng những đường liên kết các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi do Đại học Michigan trình bày. Từ đó cũng dễ dàng nhận thấy rõ doanh nghiệp cần nỗ lực liên kết các hoạt động của doanh nghiệp với khách hàng cũng như với mạng lưới các nhà phân phối, cung ứng nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh.Từ đó ta có thể dễ dàng hình dung hoạt động kinh doanh bặt đầu từ khâu thua mua nguyên vật liệu đầu vào cho đến khâu vận chuyển sản phẩm hay dịch vụ tới tay khách hàng. Giá trị được tạo ra từ sự tích hợp các nguồn lực của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng là kết quả của năm dòng chảy chủ đạo trong chuỗi: thông tin, sản phẩm, dịch vụ, Nguyễn Ý Vy Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Bảy tài chính và chuyên môn ( tất cả được minh họa bằng muỗi tên 2 chiều).Trong đó, giao vận đóng vai trò đầu tiên của dòng sản phẩm và dịch vụ trong trật tự của chuỗi cung ứng.
Bên cạnh đó, nhận thức về chuỗi cung ứng tích hợp đã thay đổi trật trự kênh truyền thống với sự liên kết lỏng lẻo giữa các doanh nghiệp Sơ đồ 2. Sự liên kết các thành phần trong chuỗi cung ứng Sự liên kết trong chuỗi cung ứng được chia ra làm hai loại: Liên kết theo chiều dọc: là mối liên kết trong đó có một thành viên nắm giữ vai trò lãnh đạo và điều khiển các hoạt động của các thành viên trong kênh phân phối o Ưu điểm: Khắc phục được nhược điểm của kênh phân phối truyền thống Làm tăng khả năng phối hợp hành động, năng lực cạnh tranh và đạt được hiệu quả cao do tận dụng được hiệu quả theo quy mô trong phân phối Nguyễn Ý Vy Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Bảy Xóa bỏ các công việc bị trùng lặp và giảm thiểu các xung đột giữa các thành viên trong kênh phân phối Tăng khả năng thu nhận thông tin phản hồi trực tiếp từ thị trường o Nhược điểm: Việc điều hành sẽ rất khó khăn nếu các nhà quản trị không có trình độ cao và kinh nghiệm Chi phí quản lý cao Liên kết theo chiều ngang: Một hiện tượng khác của các kênh phân phối là hai hay nhiều công ty sẵn sàng hợp lực lại để cùng nhau khai thác những khả năng marketing đang mở ra. Từng công ty riêng rẽ không có đủ vốn, tri thức kỹ thuật, năng lực sản xuất hay những nguồn tài nguyên marketing để hành động đơn độc, hoặc là sợ rủi ro, hoặc thấy việc hợp lực với một công ty khác sẽ có được những điều lợi không nhỏ cho mình.
Các công ty có thể hợp tác có thời hạn hay lâu dài, và cũng có thể thành lập một công ty chung khác. o Ưu điểm: Các công ty có thể kết hợp nguốn lực về tài chính, sản xuất và tiếp thị để bán hàng tốt hơn so với việc công ty đó một mình tiến hành hoạt động bán hàng Tạo điều kiện đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, tận dụng hệ thống kênh phân phối để tiết kiệm chi phí, phân tán rủi ro Sự chuyên sâu không chỉ về nguồn lực mà còn ở sự thấu hiểu khách hàng mục tiêu Tạo hiệu quả trong nhiều hoạt động khác như quảng cáo, nghiên cứu, phát triển Nếu có sự phối hợp tốt giữa các thành viên trong kênh phân phối thì sẽ tăng được tính cạnh tranh Nguyễn Ý Vy Trang 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Văn Bảy o Nhược điểm: Tạo ra mâu thuẫn, các đại lý cung cấp cạnh tranh với nhau, chủ yếu là cạnh tranh về thị trường làm mất uy tín và hình ảnh của công ty do các đại lý cạnh tranh không lành mạnh Như vậy, theo tác giả quản lí chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định và quản lí một chuỗi các hoạt động liên kết với nhau từ việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu thô, đến sản xuất ra thành phẩm và phân phối chúng đến tay người tiêu dùng cuối cùng và đo lường hiệu suất của hoạt động. Hoạt động của chuổi cung ứng này nhằm giúp doanh nghiệp đảm bảo việc cung ứng hàng hóa không bị gián đoạn và một chuỗi cung ứng vận hành tốt còn trở thành lợi thế cạnh tranh hiệu quả nhất cho doanh nghiệp.
Trong đó, chuỗi cung ứng khép kín của một doanh nghiệp có thể thuê ngoài ở một số công đoạn để đạt hiệu quả tối đa nhất, cũng như giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp, và tùy theo đặc điểm ngành mà doanh nghiệp đang kinh doanh mà có mô hình chuổi cung ứng thích hợp.Các yếu tố hình thành cấu trúc của chuổi cung ứng. Quá trình thu mua Là các quá trình liên quan tới việc thu mua nguyên liệu, hàng hoá theo kế hoạch để cung cấp cho nhu cầu sản xuất hoặc bán hàng. Một bộ phận thu mua được đánh giá mạnh khi nó có thể tìm được nguồn nguyên liệu hàng hoá rẻ, đạt chất lượng; đảm bảo cung cấp đầy đủ nguyên vật liệu cho quá trình tiếp theo và xây dựng được mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp. - Chức năng tìm nguồn cung cấp được phân tích thành 3 quá trình: o Tìm nguồn cung cấp cho dạng sản xuất tồn kho: Nhu cầu sản phẩm chưa biết trước nên mức lưu kho bị dao động rất lớn, các nhà máy buộc phải tăng dự trữ để đối phó với Nguyễn Ý Vy Trang 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Lê Văn Bảy những đơn hàng đột xuất. Bộ phận thu mua thường vất vả trong việc thiết lập các mối quan hệ dài hạn với các nhà cung cấp và xây dựng mạng lưới cung cấp dự phòng.