CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CỤM CÔNG NGHIỆP LÀNG NGHỀ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1.Một số vấn đề chung về công nghiệp làng nghề và quản lý cụm công nghiệp làng nghề theo hướng bền vững 1.Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cụm công nghiệp làng nghề 1.Khái niệm làng nghề Xét theo các góc độ nhìn nhận khác nhau có thể đưa ra các quan niệm khác nhau về “làng nghề”. Lê Xuân Tâm (2014) cho rằng “Làng nghề là làng ở nông thôn có một hay một số nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ lao động nhất định làm nghề cũng như về mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng ”[43] Trần Quốc Vượng (2012), cho rằng “ Làng nghề là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi (lợn, gà, vịt …) và một số nghề phụ khác song đã nổi trội một nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp, hay bán chuyên nghiệp sống chủ yếu bằng nghề đó.”[69] Trần Minh Yến (2004), cho rằng “ Làng nghề có thể hiểu là một thiết chế kinh tế xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa.”[70] Căn cứ Thông tư 116/2006/TT – BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 về hướng dẫn thực hiện một số nội dung tại Nghị định số 66/2006/NĐ – CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 về công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống thì làng nghề phải đảm bảo ba tiêu chí sau: 1.Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn.Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm được công nhận. Chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước. */Khái niệm cụm công nghiệp Marshall đưa ra khái niệm cụm công nghiệp “Industrial districts” vào cuối thế kỷ 19, khi ông nghiên cứu“về sự tập trung sản xuất công nghiệp ở miền bắc nước Anh.
Sau đó, khái niệm này được phát triển theo 2 trường phái tiếp cận công nghiệp khác nhau.” “Các nhà nghiên cứu theo trường phái Pháp”như Courlet et Pecqueur, Colletis, … gọi là các hệ thống sản xuất địa phương SPL “Systèmes productifs localisés”,“đó là hệ thống sản xuất đề cập nhiều đến khía cạnh lãnh thổ.” Các nhà nghiên cứu theo trường phái Anh - Mỹ gọi là cụm công nghiệp “Industrial Cluster” hay “Industrial districts” với các tiếp cận của G. Porter; Nadvi et Schmitz,… G. Becattini cho rằng “Cụm công nghiệp là một thực thể xã hội – lãnh thổ đặc trưng bởi sự có mặt hoạt động của một cộng đồng người và quần thể doanh nghiệp trong một không gian địa lý và lịch sử nhất định. Porter cho rằng “Cụm công nghiệp là sự tập trung về địa lý của các doanh nghiệp, của các nhà cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp hóa, của những người được hưởng dịch vụ, của các ngành công nghiệp và các tổ chức có liên quan.” Thực tế, có nhiều định nghĩa khác nhau về cụm công nghiệp.
Nhưng trong các định nghĩa, vấn đề mấu chốt là có sự hiệp đồng, sản xuất với qui mô lớn, có sự tác động qua lại, có sự tương trợ, có sự ganh đua và có khả năng phản ứng nhanh khi thị trường biến đổi để mang lại hiệu quả trong sản xuất và kinh doanh. */Khái niệm cụm công nghiệp làng nghề “Cụm công nghiệp làng nghề là một hệ thống sản xuất địa phương, được đặc trưng bởi sự tập trung theo địa lý các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có sự chuyên môn hóa trong cùng một hoạt động hoặc một nhóm các hoạt động bổ trợ cho nhau. Sự tập trung theo địa lý của các doanh nghiệp đã tạo ra các thể chế thúc đẩy sự hình thành và phát triển các mối quan hệ, sự hợp tác và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng lãnh thổ, đồng thời tạo ra mạng lưới các nhà cung cấp, Luan van 11 mạng lưới khách hàng và tạo ra sự đổi mới, các lợi ích chung cho các thành viên trong cùng lãnh thổ. Đặc điểm của cụm công nghiệp làng nghề 1.Về quy mô Các cụm công nghiệp làng nghề hiện nay đang sản xuất với quy mô nhỏ, mới chỉ dừng lại ở các hộ gia đình chưa phát triển lên thành các doanh nghiệp, các công ty.
Tại các làng nghề lớn, với điều kiện tốt hơn đã xuất hiện doanh nghiệp làng nghề, với quy mô lớn hơn, có điều kiện cơ khí hoá thay thế thủ công, trang bị ô tô vận tải để vận chuyển hàng hoá nguyên liệu, điện thoại di động. và doanh thu lớn hơn nhiều so với các hộ sản xuất. Chủ doanh nghiệp tại đây thường tự mình khởi nghiệp, khả năng tiếp cận vay vốn còn khó khăn bởi thủ tục chưa thuận lợi.Quan hệ kinh tế tại làng nghề vẫn được thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt.Các doanh nghiệp làng nghề thường không muốn đăng ký kinh doanh để tránh sự quản lý, kiểm tra thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước. Về trình độ kỹ thuật và công nghệ Máy móc và công nghệ được dùng để sản xuất các sản phẩm trong các cụm công nghiệp làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ,sử dụng sức người là chủ yếu.
Công cụ lao động thường rất đơn giản, chưa áp dụng được theo dây chuyền vào sản xuất dẫn đến quy mô sản xuất nhỏ, tiêu hao nguyên liệu lớn. Nhiều loại sản phẩm có công nghệ- kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ mặc dù hiện nay đã có sự cơ khí hoá và điện khí hoá từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạn trong sản xuất sản phẩm. Về tính chuyên môn hóa Trong một số cụm công nghiệp làng nghề hiện nay đã thực hiện sự phân công chuyên môn hoá và hợp tác hoá lao động như cụm công nghiệp đồ gỗ Đồng Kỵ (Bắc Ninh), cụm công nghiệp mây tre đan Phú Nghĩa (Hà Nội), cụm công nghiệp dệt len tại La Phù (Hà Nội). đã hình thành việc chuyên môn hoá theo các chi tiết Luan van 12 sản phẩm do các hộ gia đình có tiềm lực thấp hơn thực hiện và được gọi là các hộ làm gia công hoặc là các hộ vệ tinh.
Đồng thời cũng hình thành một số cơ sở kinh doanh đầu mối thực hiện việc thu gom, tập trung các chi tiết đó để lắp ráp và hoàn thiện sản phẩm cuối cùng để cung cấp cho thị trường. Điều đáng chú ý là giữa các hộ nhận làm gia công và các cơ sở sản xuất đầu mối có mối quan hệ chặt chẽ, có sự phát triển đồng bộ và ổn định cả về khía cạnh kinh tế, kỹ thuật, xã hội và tổ chức để đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và kinh doanh. Trong nhiều cụm công nghiệp làng nghề, đặc biệt là các cụm chế biến thực phẩm, việc chuyên môn hoá cũng đã dẫn đến việc một số công đoạn sản xuất được cơ khí hoá, có thể bằng máy móc tự chế hoặc máy nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sản xuất, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.Về sản phẩm Các nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm phần lớn là tại chỗ, có một số ít được nhập từ nơi khác. Các sản phẩm tại làng nghề có tính mỹ thuật cao, đẹp mắt…vừa có thể sử dụng vừa làm đồ vật trang trí trong nhà.
Nó chứa đựng văn hóa tinh thần, tín ngưỡng tôn giáo và tinh hoa của dân tộc. Các sản phẩm của làng nghề được tiêu thụ chủ yếu tại địa phương. Một số khác xuất đi các tỉnh tiêu thụ, một phần được xuất khẩu.Vai trò của cụm công nghiệp làng nghề Hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề ở Việt Nam trong những năm qua đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy xóa nghèo bền vững, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng công nghiệp. Những đóng góp đó được thể hiện trên các mặt sau: Các làng nghề góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH “Chuyển dịch cơ cấu nông thôn là nhằm phát triển kinh tế nông thôn lên một bước mới về chất, làm thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu lao động, cơ cấu việc làm, cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập của nông thôn bằng các nguồn lợi từ các Luan van 13 lĩnh vực trong nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Với mục tiêu như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngày càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành nông nghiệp và cả bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nông thôn. Trong quá trình vận động và phát triển, các làng nghề truyền thống đã có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn.” Nền sản xuất nông nghiệp tại nông thôn đã có những chuyển biến tích cực. Một mặt làng nghề cung cấp tư liệu sản xuất cho nông nghiệp, mặt khác có tác động trực tiếp lên chuyển dịch cơ cấu ngày. Do vậy tại các làng quê đã hình thành các khu vực chuyên canh, chuyên môn hóa…tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hóa, năng suất lao động được cải thiện rõ rệt, sức lao động được giải phóng.
Đồng thời, trước yêu cầu tăng lên của sản xuất, người nông dân sẽ tự thấy nên đầu tư vào lĩnh vực nào có lợi nhất sao cho phù hợp với điều kiện canh tác và số vốn hiện có. Bên cạnh đó những sản phẩm tại làng nghề cho thu nhập cao hơn so với làm nông nghiệp. Do đó người dân nhanh chóng chuyển sang đầu tư cho các sản phẩm làng nghề, vừa tạo ra thu nhập ổn định quanh năm vừa không vất vả như làm nông nghiệp phụ thuộc vào thời tiết. Kết quả tất yếu là cơ cấu ngành nông nghiệp ngày một thu hẹp, ngành công nghiệp và dịch vụ được mở rông hơn.
Như vậy, làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn, mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động.