phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường Cao đẳng. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc bộ. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật Bắc bộ hiện nay. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2020 đặc biệt với khối giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là: Hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đại học; điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội; đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, năng lực tự tạo việc làm và khả năng thích ứng với những biến động của thị trường lao động và một bộ phận có khả năng cạnh tranh trong khu vực và thế giới. Ở nước ta hiện nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, đời sống vật chất của nhân dân ta được cải thiện và ngày càng được nâng cao, nhân cách con người đã có những biến đổi, bên cạnh mặt tích cực, cũng đã xuất hiện một số mặt tiêu cực, có ảnh hưởng đến công tác giáo dục trong nhà trường. Tình trạng suy thoái về đạo đức của một bộ phận học sinh sinh viên, ảnh hưởng của lối sống thực dụng, chỉ biết hưởng thụ, không biết cống hiến, chán học, bỏ học, mục đích động cơ học tập chưa rõ ràng, các tệ nạn xã hội len lỏi vào nhà trường đó là những vấn đề nổi cộm trong những năm gần đây. Vì vậy nhà trường, gia đình, xã hội cần có sự liên kết chặt chẽ trong việc giáo dục học sinh; trong nhà trường vai trò chính là đội ngũ giáo viên và đặc biệt là GVCNL.
Khi đề cập đến công tác CNL đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: - Cải tiến việc quản lý đội ngũ GVCNL của Hiệu trưởng trường phổ thông (Đề tài cấp trường) - của Lưu Xuân Mới (Chủ nhiệm đề tài). Trường Cán bộ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quản lý Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội 1998. - Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường Trung học phổ thông - của Hà Nhật Thăng (Chủ biên). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004.
Một số bài báo, tư liệu khác viết về công tác GVCNL như: - Rèn luyện một số kĩ năng làm công tác GVCNL cho sinh viên Cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 126 (11/2005). - Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng làm công tác GVCNL cho sinh viên Cao đẳng sư phạm - của Vũ Đình Mạnh. Tạp chí Giáo dục số 135 (Kỳ 1- 4/2006).
Hầu hết các tài liệu, công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức khái quát chung công tác CNL, chưa đi sâu và đề xuất các biện pháp quản lý cụ thể thực hiện công tác CNL ở trường Cao đẳng nghề. Như vậy, cho đến nay, theo những tài liệu mà chúng tôi có được vẫn còn thiếu những công trình đề cập đến các biện pháp quản lý công tác CNL ở trường đào tạo nghề một cách đầy đủ và hệ thống. Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi muốn đi sâu hơn để xác định cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lý công tác CNL góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong trường Cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật Bắc bộ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. K hái niệm công cụ nghiên cứu đề tài 1.
Quản lý Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể ,là sự tác động của chủ thể vào khách thể, trong đó quan trọng nhất là khách thể con người, nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tập thể, tổ chức. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về nội dung cơ bản của quản lý có nhiều cách hiểu và quan điểm tiếp cận khác nhau. Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. [14] Theo Giáo trình khoa học quản lý (Hồ Văn Vĩnh - chủ biên): “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”.
[45] Các nhà lý luận quản lý trên thế giới như: Frederick Winslow Taylor, [Mỹ, (1856-1915)]; Henri Fayol, [Pháp, (1841–1925)]; Max Weber, [Đức, (1864- 1920)]; đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội. Nói đến hoạt động quản lý người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K-Marx: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”. Quản lý có thể xét theo ngữ nghĩa: Quản lý = Quản + Lý, quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”, quá trình “Lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp đổi mới hệ vào thế “phát triển”. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “Quản”, tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến việc “Lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổ chức không bền vững.
Trong “Quản” phải có “Lý”, trong “Lý” phải có “Quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực). [3] Các định nghĩa khác: 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với qui luật khách quan. - Hoạt động quản lý là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thể và đối tượng quản lý qua con đường tổ chức; là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào việc hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội. * Về chức năng của quản lý: Nhiều người đã khái quát hoá hoạt động quản lý thành một quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách thực hiện bốn chức năng: + Chức năng kế hoạch hóa.
+ Chức năng tổ chức. + Chức năng chỉ đạo thực hiện. + Chức năng kiểm tra đánh giá. Bốn chức năng này được coi như bốn công đoạn tạo nên một chu trình quản lý.
Các chức năng này có quan hệ chặt chẽ với nhau, đan xen với nhau và đều cần đến thông tin quản lý. Ta có thể mô hình hóa hoạt động quản lý như một chu trình với các chức năng đó như sau: [14] Sơ đồ 1.1: Chu trình quản lý 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lập kế hoạch Thông tin Kiểm tra Tổ chức quản lý Chỉ đạo thực hiện 1. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.1 Quản lý giáo dục Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số định nghĩa về quản lý giáo dục như sau: M.Kônđacốp định nghĩa: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính…nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng”. [19; 22] “Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến các trường cơ sở giáo dục khác.) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của chủ nghĩa xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em, thiếu niên và thanh niên” 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo PGS - TS Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội.
[4; 31] Giáo sư Phạm Minh Hạc cho rằng: “Việc quản lý nhà trường phổ thông (có thể mở rộng ra là quản lý giáo dục nói chung) là quản lý hoạt động dạy học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục.[12;71] Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa mà tiêu điểm hội tụ quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất”. [23; 12] Từ các định nghĩa trên chúng ta thấy: khái niệm quản lý giáo dục thường được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp trên cơ sở xem xét theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp của từ “Giáo dục”. “Quản lý giáo dục” được hiểu theo nghĩa rộng nhất khi “Giáo dục” được coi là các hoạt động thực tiễn diễn ra trong các nhà trường hay ngoài xã hội.