Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề. Trong hệ thống tổ chức của các trường phổ thông, đơn vị cơ bản được tổ chức các hoạt động GD là lớp học. Mô hình lớp học được duy trì và ngày càng phát triển mạnh mẽ ở khắp các nước trên thế giới.
Một lớp học phải cần có người QL. Để QL lớp học nhà trường cử ra một trong những GV đang giảng dạy làm CNL. GVCN được HT nhà trường lựa chọn từ những GV ưu tú có kinh nghiệm GD, có uy tín trong học sinh, được hội đồng nhà trường nhất trí phân công CNL để thực hiện mục tiêu GD. Như vậy, khi nói đến GVCN lớp là nói đến QL và tổ chức các hoạt động GD học sinh của một lớp.
Khi đề cập đến công tác CNL đã có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, có thể kể đến các tác phẩm, công trình tiêu biểu như: Theo UNESCO, GD trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình những giá trị cần thiết cho cuộc sống cũng như con đường chuẩn bị bước vào hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống sau này.Từ định hướng đó, các nước phát triển đã xây dựng những mục tiêu GD cho học sinh trung học mà có liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp. Trong đó có giáo dục kĩ năng sống, giáo dục những giá trị sống, giáo dục hướng nghiệp,… Nghiên cứu về công tác của giáo viên chủ nhiệm đã có một số công trình nghiên cứu của Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ (1998) “Công tác GVCN ở trường phổ thông” [21]; Hà Nhật Thăng, NXB ĐHQG HN (2000) “Những tình huống giáo dục học sinh của người giáo viên chủ nhiệm” [22]; và NXBGD (2005) “Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” ; Vũ Đình Mạnh, Tạp chí Giáo dục số 135 (kỳ 1 - 4/2006); “Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm lớp e 7 cho sinh viên Cao đẳng sư phạm”; “Công tác GVCN ở trường phổ thông” NXBGD, 2010; “Một số vấn đề trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay” - Nhà xuất bản ĐHSP, 2011. Nghiên cứu về biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp Hoàng Văn Liêm (2017) “Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường trung học cơ sở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế” [17], Phan Hoàng Khương (2020) “Quản lý công tác của giáo viên chủ nhiệm ở các trường Trung học cơ sở huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên” [16], Trần Văn Lực (2020) “Quản lý công tác của giáo viên chủ nhiệm ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” [18]. Ở tỉnh Bình Định đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý công tác CNL đó là luận văn thạc sĩ nghiên cứu về QL công tác CNL lớp tại các trường THCS trên địa bàn tỉnh Bình Định.
Tuy nhiên trên địa bàn huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định chưa có công trình nghiên cứu nào về công tác của GVCN dành cho cấp THCS. Vì vậy, đây là một vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa cấp thiết. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý QL hình thành và phát triển cùng với sự xuất hiện, phát triển của xã hội loài người.
QL là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia, mọi thời đại. Lao động quản lý là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người, nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện. Khoa học quản lý cũng như nhiều khoa học xã hội-nhân văn khác gắn với tiến trình phát triển của xã hội loài người, nó luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp, tính dân tộc, tính thời đại. Ở Việt Nam có rất nhiều tác giả đưa ra nhiều khái niệm theo những cách tiếp cận khác nhau.
Có thể nêu ra e 8 một số khái niệm “quản lý” được phần lớn các nhà quản lý chấp nhận như sau: Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục đích tổ chức” [4]. Tác giả Bùi Minh Hiền đưa ra khái niệm QL theo một hình diện khác: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên khách thể về các mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội, giáo dục bằng một hệ thống các luận định, chính sách, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [14]. Theo tác giả Vũ Dũng, Phùng Đình Mẫn:“Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [13]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý).
Trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [11]. Những quan niệm về quản lý của các tác giả trên tuy có khác nhau về cách tiếp cận nhưng đều thể hiện một số điểm chung nhất về quản lý như sau: Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là QL một hệ thống XH hết sức năng động và phức tạp, nó không chỉ đơn thuần là sử dụng sức mạnh luật pháp mà còn sử dụng hàng loạt các biện pháp đối nhân xử thế để điều khiển, định hướng, điều chỉnh, tác động vào toàn bộ hệ thống thúc đẩy nó đạt tới mục tiêu mong muốn khả thi. Đối tượng QLGD chủ yếu là con người, đồng thời mục tiêu quản lý e 9 cũng chính là hình thành và phát triển nhân cách con người, do đó phương pháp quản lý càng trở nên phong phú, đa dạng và phức tạp hơn.
Tùy theo cách nhìn nhận, có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD: Theo nghĩa tổng quát: QLGD là “Hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”. Theo Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [13] Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội [4]. Tác giả Đặng Quốc Bảo cũng nhấn mạnh “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới về chất” [4]. Như vậy, QLGD là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra.
Những tác động này có tính khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch trong việc dạy và học theo mục tiêu đào tạo chung. Quản lý nhà trường Trường học là một tổ chức, ở đó tiến hành quá trình dạy học. Hoạt động đặc trưng của trường học là hoạt động dạy học. Hoạt động dạy học là hoạt động có tổ chức, có nội dung, có phương pháp và phương tiện, có mục đích, có sự lãnh đạo của nhà GD, có sự hoạt động tích cực, tự giác của người e 10 học.
Nội hàm của khái niệm quản lý nhà trường được nhiều tác giả trong và ngoài nước diễn tả theo nhiều góc độ khác nhau. Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [4]. Theo Trần Kiểm: “Quản lý trường học có thể hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực và trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng tới hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu dự kiến” [15]. Tóm lại, QL nhà trường là một bộ phận của QLGD.
QL nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm khoa học và có tính định hướng của chủ thể QL đến tập thể GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng trong thực tiễn Việt Nam. Người QL nhà trường phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận hành chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn. Công tác chủ nhiệm lớp Để quản lý, giáo dục học sinh trong lớp, nhà trường phân công một trong những giáo viên đang giảng dạy có năng lực chuyên môn tốt, có kinh nghiệm làm công tác quản lý, giáo dục học sinh, có tinh thần trách nhiệm cao và lòng nhiệt huyết trong công tác, có uy tín với học sinh và đồng nghiệp làm GVCN. Như vậy,khi nói đến người GVCN là đề cập đến vị trí, vai trò, chức năng của người làm công tác chủ nhiệm, còn nói công tác chủ nhiệm lớp trong nhà trường nói chung và trường THCS nói riêng là đề cập đến những e 11 nhiệm vụ, nội dung công việc mà người GVCNL phải làm, cần làm và nên làm [18].