phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục thì có 3 chƣơng chính: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý cơ sở vật chất tại trƣờng mầm non công lập. Thực trạng về quản lý cơ sở vật chất các trƣờng mầm non công lập tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Một số biện pháp quản lý cơ sở vật chất các trƣờng mầm non công lập tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT TẠI TRƢỜNG MẦM NON CÔNG LẬP 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Hầu hết các nƣớc trên thế giới đều xem CSVC là một thành phần quan trọng trong đảm bảo chất lƣợng dạy học theo hƣớng tích cực và phù hợp với sự hiện đại hóa nội dung, phƣơng pháp và hình thức dạy học. Tùy vào hoàn cảnh kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật và định hƣớng giáo dục của mỗi nƣớc mà quá trình xây dựng, trang bị CSVC trong trƣờng học đƣợc thực hiện theo hƣớng khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo dục của mỗi nƣớc.
Cụ thể CSVC bao gồm nhƣ diện tích khuôn viên, diện tích các phòng học, các công trình xây dựng, các phòng thí nghiệm, thƣ viện, nhà vệ sinh, khu vui chơi, thể thao… Ở các nƣớc phát triển về giáo dục nhƣ Đức, Ba Lan, Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Singapore. việc trang bị CSVC rất đầy đủ và hiện đại, học sinh ngày càng đƣợc tiếp cận với công nghệ hiện đại nhƣ học bằng các phần mềm tƣơng tác, máy tính bảng, các phƣơng tiện nghe nhìn trực quan. Một số trƣờng còn sử dụng máy móc thay cho giáo viên trong công việc dạy học. Chính vì vậy yếu tố CSVC đƣợc đánh giá là một thành phần quan trọng trong việc đảm bảo chất lƣợng dạy học ở các cấp học, trong đó có cấp học mầm non [21].
Khi đánh giá cơ sở giáo dục - đào tạo, tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO (Evaluation Rating criteria for the VTE Institution. ADB/ILO - Bangkok 1997) đƣa ra 9 tiêu chuẩn và điểm để kiểm định các nƣớc thuộc tiểu vùng sông Mêkông gồm: Triết lý; Tổ chức và quản lý; Chƣơng trình giáo dục và đào tạo; Đội ngũ cán bộ quản lý – giáo viên; Thƣ viện và các nguồn lực cho dạy học; Tài chính; Khuôn viên nhà trƣờng và CSVC; Xƣởng thực hành, phòng thí nghiệm, thiết bị và vật liệu; Dịch vụ ngƣời học. Qua đó cho thấy yếu tố CSVC là một yếu tố để đánh giá chất lƣợng một trƣờng học nói riêng và hệ thống giáo dục của một quốc gia nói chung. Để phát huy hiệu quả của CSVC, mang lại lợi ích cho ngƣời học, phát triển nền giáo dục không phải chỉ cần chú trọng đến việc xây dựng, mua sắm trang thiết bị hiện đại mà cần phải quản lý CSVC một cách chặt chẽ, khoa học.
Các trƣờng học cần phải biết phối hợp, điều phối các thành tố cấu thành quá trình giáo dục nhƣ mục tiêu, nội 7 dung, phƣơng pháp, giáo viên, học sinh và CSVC mới phát huy hiệu quả của việc đầu tƣ vào xây dựng và trang bị CSVC từ đó giúp các trƣờng đạt đƣợc mục tiêu giáo dục. Chính vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu ở quốc tế liên quan đến quản lý CSVC trƣờng học. Vào đầu thế kỷ XX, các nhà khoa học nổi tiếng nhƣ viện sĩ ngƣời Nga XG Strumilin hay Alfred Marshall nhà kinh tế học ngƣời Anh đều cho rằng đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ phát triển con ngƣời, là đầu tƣ cho xã hội và đem lại lợi nhuận “Nếu đầu tư một đồng rúp vào giáo dục thì sau 5 năm sẽ sinh lợi thành 4 rúp” (dẫn bởi Nguyễn Văn Hộ, 2001). Việc đầu tƣ vào giáo dục một phần trong đó là đầu tƣ cho CSVC và quản lý CSVC trƣờng học [18].
Các quan điểm dạy học nổi tiếng đang đƣợc áp dụng rộng rãi trên thế giới, trong đó đã đƣợc một số trƣờng ở Việt Nam vận dụng nhƣ phƣơng pháp giáo dục hiện đại nhƣ Steiner (1978), Montessori và Reggio Emilia (Carol Garhart Mooney, Nguyễn Bảo Trung dịch, 2016) [9]. Đây là các phƣơng pháp giáo dục thực tiễn mang tính đột phá, đã đƣợc vận dụng từ lâu ở nhiều nƣớc tiên tiến trên thế giới và thu đƣợc thành công vang dội. Mục tiêu của các phƣơng pháp giáo dục này là tạo điều kiện tối đa để trẻ trau dồi niềm đam mê học hỏi, thông qua thực hành thƣờng xuyên để hình thành các kỹ năng, cá nhân hóa việc học tập, trẻ là trung tâm của hoạt động dạy học và chú trọng phát triển năng khiếu toàn diện cho từng học sinh. Để vận dụng các phƣơng pháp giáo dục này thì CSVC và quản lý CSVC hiệu quả luôn đƣợc quan tâm hàng đầu.
CSVC phải đáp ứng đƣợc xu thế phát triển của giáo dục, nhu cầu học tập của học sinh và phát huy khả năng học tập của trẻ. Quá trình quản lý, sử dụng CSVC nhằm phát huy đƣợc tất cả các khả năng của học sinh, giác quan, tạo tính tƣơng tác cao, giúp trẻ tự khám phá, phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ. Đây là mục tiêu hƣớng đến của nền giáo dục các quốc gia hiện nay. Các nghiên cứu, phƣơng pháp dạy học liên quan đến quản lý CSVC nêu trên dùng để đánh giá chung cho các hệ thống giáo dục bao gồm nhiều cấp học, không đánh giá riêng cho cấp MN.
Tuy nhiên, qua đây có thể cũng khẳng định đƣợc tầm quan trọng của CSVC trong quá trình dạy học ở các trƣờng học nói chung và trƣờng MN nói riêng hiện nay. Đây là cơ sở để tác giả đánh giá thực trạng CSVC và quản lý 8 CSVC ở các trƣờng mầm non hiện nay. Từ đó xây dựng các biện pháp quản lý CSVC nhằm gia tăng hiệu quả quản lý CSVC tại các trƣờng mầm non trong thời gian tới. Các nghiên cứu ở trong nước Giáo dục là một lĩnh vực đƣợc rất sự quan tâm, đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc thời gian qua.
Một trong những nội dung đƣợc quan tâm đó là đầu tƣ hoàn thiện CSVC nhằm phục vụ và góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học trong các trƣờng học. Chính vì vậy các nghiên cứu về vấn đề này hiện nay đƣợc rất nhiều tác giả đề cập đến. Tác giả Trần Quốc Bảo với đề tài “Các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ cho việc dạy học ở trường THPT công lập TP.HCM” đã thực hiện khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động quản lý CSVC kỹ thuật ở một số trƣờng THPT công lập tại TP. Qua nghiên cứu tác giả đã đánh giá đƣợc những mặt đạt đƣợc và các tồn tại để đề ra các biện pháp quản lý khắc phục những tồn tại đó nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC - kỹ thuật phục vụ cho việc dạy - học của các trƣờng giai đoạn sau đó [3].
Tác giả Vƣơng Ngọc Lê đã thực hiện đề tài “Thực trạng quản lý CSVC ở các trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Thạnh thành phố Cần Thơ”. Trong đề tài tác giả đã Hệ thống hóa cơ sở lý luận của công tác quản lý CSVC trƣờng học; Khảo sát thực trạng công tác quản lý CSVC ở các trƣờng trung học cơ sở huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ. Từ đó đề xuất một số giải pháp cho công tác quản lý CSVC ở các trƣờng trung học cơ sở huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ [22]. Trần Đức Hùng với nghiên cứu “Biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở trường THPT tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay” đã thực hiện nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học ở trƣờng THPT tỉnh Quảng Ngãi [19].
Trong nghiên cứu của Phan Văn Ngoạn (2013) với đề tài “Thực trạng quản lý cơ sở vật chất ở Trường Đại học Tiền Giang” tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về CSVC và quản lý CSVC ở trƣờng học; Khảo sát và phân tích thực trạng CSVC và công tác quản lý CSVC ở Trƣờng Đại học Tiền Giang; Từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CSVC ở Trƣờng Đại học Tiền Giang [24]. Đỗ Hồng Sâm trong bài viết “Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo ở trường Đại học” đã cho rằng CSVC, 9 trang thiết bị là những vật vô tri, vô giác nhƣng có thể thể hiện khả năng sƣ phạm của nó dƣới sự điều khiển của GV, qua đó tăng tốc độ truyền đạt thông tin, lôi cuốn ngƣời học. Từ đó đề ra một số giải pháp nâng cao chất lƣợng quản lý trang thiết bị tại các trƣờng nghiên cứu một phù hợp với thực trạng [26]. Trƣờng cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng giáo trình quản lý giáo dục có nội dung quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật ở trƣờng phổ thông.
Trong đó nêu CSVC - kỹ thuật ở trƣờng phổ thông trong đó khẳng định vị trí - vai trò quan trọng của cơ sở vật chất - kỹ thuật trƣờng học; trình bày nội dung quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật trong trƣờng học. Qua đó giúp các nhà trƣờng phổ thông thực hiện công tác quản lý CSVC - kỹ thuật một cách hiệu quả [23]. Các nghiên cứu trên là những nghiên cứu mang tính thực tiễn, vận dụng vào các đơn vị, đối tƣợng nghiên cứu một cách khoa học. Tuy có những sai khác về đối tƣợng nghiên cứu nhƣng về cơ bản thì các nghiên cứu nêu trên có thể đƣợc tham khảo trong quá trình thực hiện nghiên cứu này.
Qua tổng quan, cho thấy có rất ít nghiên cứu về quản lý CSVC ở trƣờng MNCL và chƣa có nghiên cứu nào thực hiện tại trƣờng MNCL tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, điều này khẳng định sự cần thiết và tính mới của đề tài. Khái niệm cơ bản của đề tài 1. Cơ sở vật chất trường mầm non Trƣờng học nói chung và trƣờng mầm non nói riêng là một hệ thống thuộc 3 thành phần gồm: Những cá nhân nhƣ trẻ, giáo viên, hiệu trƣởng, cán bộ, nhân viên; Nhóm phƣơng tiện vật chất, kỹ thuật và tài chính nhƣ ngôi trƣờng, sách giáo khoa, đồ dùng dạy và học, hồ sơ lƣu trữ, kinh phí; Nhóm các tổ chức nhƣ Ban giám hiệu, phòng hoặc ban chức năng, các tổ chuyên môn, các hội đồng, chi bộ Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, hội Khuyến học, hội phụ huynh học sinh.