LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO, nhiều nhà đầu tư, trong đó có các tập đoàn lớn hàng đầu trên thế giới như đã quan tâm hơn đến thị trường này. Thị trường sôi động, hàng hóa đa dạng, người tiêu dùng có nhiều lựa chọn về sản phẩm hơn để đáp ứng cho nhu cầu của mình. Điều này cũng có nghĩa cạnh tranh trở nên gay gắt hơn giữa các nhà cung cấp, nhà phân phối trong việc tìm kiếm thị trường cho thương hiệu của mình.
Các doanh nghiệp nỗ lực tối đa để gia tăng tính cạnh tranh thông qua việc định hướng, phát triển chiến lược kinh doanh dài hạn, cải tiến tổ chức sản xuất, kinh doanh chuyên nghiệp hơn và đương nhiên con người được xem là yếu tố then chốt tạo nên sự thành công. Vai trò việc quản lý chuỗi cung ứng được đề cao hơn bao giờ hết. Theo ông William Leo, giám đốc quản lý chuỗi cung ứng của Infor tại Châu Á, chi phí chuỗi cung ứng chiếm 30-60% giá bán các sản phẩm tiêu dùng. Do vậy việc quản lý hiệu quả chi phí chuỗi cung ứng sẽ góp phần làm giảm chi phí hoạt động của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, theo khảo sát của Huber và Sweeney (2007) đối với 776 công ty ở Ailen về sự hiểu biết và quan tâm của họ đối với chi phí của chuỗi cung ứng thì có đến 59% trong số các công ty này không biết tổng chi phí của chuỗi cung ứng tại công ty họ, trong khi chi phí của chuỗi chiếm đến 55% chi phí của sản phẩm. Có lẽ, đây là một hồi chuông báo động cho các doanh nghiệp đã, đang và sẽ tham gia vào thị trường toàn cầu hóa. Mặc dù, ngày nay, chất lượng là yếu tố hàng đầu trong việc lựa chọn sản phẩm của người tiêu dùng, nhưng giá cả cũng luôn là mối quan tâm của khách hàng khi quyết định mua sản phẩm. Vì vậy, các doanh nghiệp luôn trăn trở với vấn đề giảm chi phí nhằm gia tăng hiệu quả với mức giá cạnh tranh và để làm được điều này, trước hết, doanh nghiệp cần quan tâm đến chi phí của chuỗi cung ứng.
Với kinh nghiệm 13 năm hoạt động tại thị trường Việt Nam, Nam, công ty TNHH CPRO Việt Năm – trực thuộc công ty CPRO Hàn Quốc luôn quan tâm nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nói chung và chuỗi cung ứng nói riêng nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh cho sản phẩm và vượt xa đối thủ cạnh tranh về mặt thị phần. Trong quá trình thực tập tại công ty tôi nhận thấy sự thất thoát và lãng phí trong việc quản lý chuỗi cung ứng nên tôi đã trọn đề tài :” Quản lý chuỗi cung ứng sản phẩm camera tại công ty TNHH CPRO tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu - Tìm hiểu về thực trạng quản lý chuỗi cung ứng của sản phẩm camera tại Công ty TNHH CPRO Việt Nam trong thời gian qua, phân tích những mặt mạnh, mặt hạn chế và tìm hiểu nguyên nhân cốt lõi để giải quyết. - Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hoạt động quản lý chuỗi cung ứng của sản phẩm camera tại Công ty TNHH CPRO Việt Nam trong thời gian tới 3.
Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu là quản lý chuỗi cung ứng của sản phẩm camera tại Công ty TNHH CPRO Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu Bài luận sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng qua phỏng vấn trực tiếp để lấy ý kiến của các quản lý tại công ty TNHH CPRO Việt Nam. Cách thức thu thập dữ liệu bao gồm cả thứ cấp và sơ cấp, cụ thể: - Thông tin thứ cấp + Nguồn tài liệu nội bộ công ty: các số liệu thống kê, báo cáo tổng kết. + Nguồn tài liệu bên ngoài: sách, báo, tạp chí ngành và mạng Internet.
- Thông tin sơ cấp + Thảo luận và phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi để lấy ý kiến từ giám đốc, các quản lý của công ty TNHH CPRO Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Khái quát về chuỗi cung ứng 1. Khái niệm về chuỗi cung ứng Hiện nay, có nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau như: cách tiếp cận dựa trên các thành phần cơ bản trong cấu trúc của chuỗi cung ứng, các mối quan hệ trong chuỗi cung ứng hay các dòng chảy trong chuỗi cung ứng.
Theo Chopra và Meindl (2001) nhận xét rằng chuỗi cung ứng bao gồm mọicông đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhàvận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng Theo Mentzer và cộng sự, (2001) cho rằng: Chuỗi cung ứng là một mạng lưới của các tổ chức có liên quan đến nhau, thông qua mối quan hệ cung ứng hoặc phân phối trong các quy trình hoạt động khác nhau để tạo ra giá trị dưới dạng sản phẩm hoặc dịch vụ cho người tiêu dùng. Cấu trúc của chuỗi cung ứng Các tổ chức trong chuỗi cung ứng tác động liên tục đến cách quản lý 5 tác nhân thúc đẩy của chuỗi cung ứng. Mỗi tổ chức cố gắng cực đại thành tích ở các tác nhân thúc đẩy này thông qua sự kết hợp các nguồn lực ngoài, đối tác và chuyên gia nội bộ.
Với sự thay đổi nhanh của thị trường trong nền kinh tế ngày nay, công ty thường tập trung vào khả năng cạnh tranh năng. Tuy vậy, đây không phải là trường hợp thường xuyên. Sự thay đổi chậm của thị trường đại trà trong thời đại công nghiệp, đặc điểm chung của các công ty thành công chính là nổ lực có được nhiều chuỗi cung ứng. Điều đó được biết đến như là sự liên kết dọc.
Ngày nay do toàn cầu hóa, thị trường cạnh tranh cao, thay đổi nhanh về công nghệ kéo theo sự tiến triển của chuỗi cung ứng trong đó các công ty kết hợp với nhau và mỗi công ty tập trung vào những hoạt động mà mình làm tốt nhất. Các công ty khai mỏ tập trung vào khai khoáng; những công ty gỗ tập trung vào xẻ gỗ; các công ty sản xuất tập trung vào các loại sản xuất khác nhau từ việc sản xuất các linh kiện cho đến dây chuyền lắp ráp thành phẩm. Theo cách này, mỗi công ty có thể theo kịp tỉ lệ thay đổi và học được những kỹ năng mới cần thiết để cạnh tranh trong kinh doanh.1: Liên kết dọc chuyển sang liên kết ảo ( Nguồn: Michael Hugos, 2018 ) Xu hướng hiện nay các công ty thực hiện “liên kết ảo” thay vì liên kết dọc. Các công ty tìm kiếm các đối tác khác để cùng thực hiện các hoạt động cần có trong chuỗi cung ứng.
Điều quan trọng hơn hết chính là bằng cách nào để một công ty xác định năng lực cạnh tranh cốt lõi của mình và xác định vị thế của công ty, trong chuỗi cung ứng, trên thị trường mà công ty phục vụ. Các thành viên của chuỗi cung ứng - Nhà cung cấp: Đây là những tổ chức cung cấp dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà phân phôi, nhà bán lẻ và khách hàng. Nhà cung cấp dịch vụ thành các chuyên gia và có các kỹ năng về một hoạt động cụ thể mà chuỗi cung ứng cần. Do đó, họ có thế thực hiện những dịch vụ này hiệu quả hơn nhiều với mức giá tốt hơn so với việc nhà phân phối, nhà bán lẻ hay cả người tiêu dùng tự đảm nhận.
- Nhà sản xuất: Nhà sản xuất hay nhà chế tạo là những tổ chức trực tiếp làm ra sản phẩm. Nó bao gồm các doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu thô và các doanh nghiệp sản xuát sản phẩm cuối cùng. Nhà sản xuất nguyên liệu thô là các công ty khai khoáng, khai thác dầu và khí đốt, xưởng cưa, đó cũng có thể là các tổ chức làm việc nông, chăn nuôi, hay đánh bắt thủy hải sản. Nhà sản xuất hàng hóa thành phẩm sử dụng nguyên liệu thô và những bộ phận lắp ráp được các doanh nghiệp khác làm ra để chế tạo nên sản phẩm của chính mình.
- Nhà phân phối: Các nhà phân phối là những công ty nhận một khối lượng lớn hàng hóa lưu kho từ nhà sản xuất rồi bán lô những sản phẩm liên quan cho khách hàng. Nhà phân phối còn được gọi là nhà bán buôn. Các nhà bán buôn chủ yếu bán sản phẩm cho các doanh nghiệp khác với số lượng lớn hơn so với lượng mà người tiêu dùng cá nhân thường mua. Nhà phân phối là người lưu trữ trung gian hàng hóa từ nhà sản xuất để đối phó với biến động về cầu và tập trung hoạt động của mình vào việc tìm kiếm và phục vụ khách hàng.
Nhà phân phối thực hiện chức năng "Thời gian và Địa điểm" cho khách hàng bằng cách giao hàng mọi lúc và mọi nơi mà khách hàng yêu cầu. - Khách hàng: Khách hàng sẽ là người cuối cùng tiêu thụ hàng hóa. Khách hàng cũng có thể mua hàng tại nhà phân phối nếu họ mua với số lượng nhiều, nhưng tỉ lệ này khá thấp. Đa số họ chỉ mua hàng tại các đại lý bán lẻ, và nhà phân phối của họ.
Khái quát quản lý chuỗi cung ứng 1. Khái niệm quản lý chuỗi cung ứng Dựa theo cách tiếp cận nghiên cứu về chuỗi cung ứng đã đề cập, để các hoạt động trong chuỗi diễn ra một cách nhịp nhàng và hiệu quả, hoạt động quản trị chuỗi cung ứng rất cần thiết trong bất kỳ công đoạn nào của chuỗi. Nghiên cứu này trích lược một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về quản lý chuỗi cung ứng, gồm: Theo Jeffrey (2004) lập luận rằng “Quản lý chuỗi cung ứng đồng nghĩa với việc quản lý mọi hoạt động của chuỗi cung ứng”. Theo Hugos (2006) cho rằng “Quản lý chuỗi cung ứng là việc phối hợp hoạt động sản xuất, lưu kho, địa điểm và vận tải giữa các thành viên của chuỗi cung ứng nhằm mang đến cho thị trường mà bạn đang phục vụ sự kết hợp tiện ích và hiệu quả nhất”.
Theo Christopher (2011), “Quản lý chuỗi cung ứng là quản lý các mối quan hệ nhiều chiều giữa các nhà cung cấp và khách hàng nhằm phân phối đến khách hàng giá trị cao hơn với chi phí ít hơn trong toàn bộ chuỗi cung ứng”.