Chương 1 LÝ THUYẾT VỀ CHI PHÍ MỤC TIÊU 1.1 Chi phí mục tiêu 1.1 Lược sử hình thành chi phí mục tiêu Các nghiên cứu đã chứng minh rằng “chi phí mục tiêu”, hay tiếng Nhật gọi là “Genka Kikaku” không phải là hoàn toàn mới, ít nhất là không mới đối với các ngành công nghiệp của Nhật Bản. Đã có nhiều tác giả nói đến lĩnh vực này với thời gian khác nhau. Trong nghiên cứu này sẽ mô tả các sự kiện chính theo thứ tự thời gian như sau: Cooper & Slagmuler (1997) cho rằng Toyota đã đặt ra việc xác định chi phí mục tiêu vào năm 1959, trong khi Tanaka (1993) lại cho rằng xác định chi phí mục tiêu được phát triển lần đầu vào năm 1965. Tất cả đều đồng ý rằng Toyota là nguồn gốc của khái niệm này.
Từ khi thành lập năm 1937, Toyota đã tìm ra một hệ thống mới và cải tiến để giảm các chi phí một cách hiệu quả. Họ nhận ra rằng ước tính chi phí không đủ tốt, và cần phải có một kỹ thuật kiểm soát chi phí mới. Sản phẩm đầu tiên của Toyota áp dụng hệ thống này là “chiếc xe một ngàn đô la” vào giữa những năm 1980. Tuy nhiên, vẫn có những tranh cải như được nói đến ở đoạn trên về việc xác định chi phí mục tiêu xuất hiện khi nào thì khái niệm này được triển khai hoặc áp dụng thực tế lần đầu tiên.
Sự sản xuất hàng loạt trong các ngành công nghiệp của Nhật Bản để đáp ứng nhu cầu của khách hàng vào những năm 1980. Khi đó khách hàng trở nên kén chọn hàng hóa mà họ tiêu dùng. Sản xuất hàng loạt không mang lại khả năng có những sản phẩm khác nhau như mong muốn. Chính vì điều này mà nhiều vấn đề phải được giải quyết để đáp ứng một cách có hiệu quả nhu cầu của thị trường.
Xác định chi phí mục tiêu được áp dụng ở một số ngành công nghiệp như Atsugi Motor Parts, một chi nhánh Ô tô Nissan, năm 1976 và sau đó là Daihatsu. Cả hai công ty đều áp dụng xác định chi phí mục tiêu để phản ứng lại một thị trường LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 luôn thay đổi một cách có hiệu quả, mà ở đó khách hàng nhận ra các sản phẩm có giá trị với mức giá hợp lý (Sakurai, 1989). Kato (1993) cho rằng hơn 80% các công ty chủ yếu trong ngành công nghiệp đã sử dụng xác định chi phí mục tiêu tại Nhật. Còn về phần Cooper & Slagmulder (1997) thì lại cho rằng các công ty chủ yếu này bao gồm các Công ty TNHH Ô tô Nissan, Tập đoàn Ô tô Toyota, Công ty TNHH Komatsu, Công ty TNHH Olympus, Tổng Công ty Sony, Tập đoàn Topcon, và Công ty TNHH Ô tô Isuzu1.
Như vậy, công cụ chi phí mục tiêu có nguồn gốc từ Nhật Bản. Công cụ này đã được ứng dụng từ những năm 60 bởi các công ty có quy mô lớn như ngành công nghiệp chế tạo ô tô (Toyota, Nissan) và ngành công nghiệp điện tử (NEC, Sony).2 Định nghĩa về chi phí mục tiêu Chi phí mục tiêu là tổng thể các phương pháp, công cụ quản trị cho phép đạt được mục tiêu chi phí và mục tiêu hoạt động ở giai đoạn thiết kế và kế hoạch hóa sản phẩm mới. Công cụ này cũng cho phép cung cấp một cơ sở kiểm soát chi phí ở giai đoạn sản xuất và bảo đảm các sản phẩm này đạt được mục tiêu lợi nhuận đã được xác định phù hợp với chi phí chu kỳ sống của sản phẩm 2. Như vậy theo định nghĩa này, công cụ chi phí mục tiêu làm giảm chi phí ngay từ giai đoạn thiết kế sản phẩm, đồng thời còn cung cấp một cơ sở kiểm soát các chi phí ở giai đoạn sản xuất để làm tăng lợi nhuận mà không ảnh hưởng đến chất lượng và chức năng của sản phẩm.Petez (2009), Application of Target Costing Principles in Publically Funded Green Buidings 2.
Trương Bá Thanh, TS.Nguyễn Công Phương, Quản trị chi phí theo lợi nhuận mục tiêu và khả năng vận dụng tại Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Chi phí mục tiêu với chu kỳ sống sản phẩm Sơ đồ 1.1 Chi phí mục tiêu với chu kỳ sống sản phẩm Giai ñoạn Saûn phaåm/ xaùc ñònh döï aùn hoạch ñònh Giaù baùn mục tiêu/ giá thầu Lôïi nhuaän mục tiêu Xaùc ñònh chi phí mục tiêu Chi phí mục tiêu Thay ñoåi thieát keá saûn phaåm vaø quaù trình saûn xuaát chuû yeáu Chi phí chu kyø soáng Thieát keá khoâng coù ñaùp öùng chi phí mục tiêu khoâng? coù Öôùc tính chi phí chu kyø soáng SP Chi phí chu kyø khoâng soáng döï kieán coù chaáp nhaän ñöôïc khoâng? coù Chi phí Kaizen Giai ñoạn Ñöa saûn phaåm vaøo saûn xuaát saûn xuaát Thay ñoåi thieát keá saûn phaåm vaø quaù trình saûn xuaát thöù yeáu Giai ñoạn Loại boû saûn phaåm loại boû Nguồn: Robert S.Atkinson, Adavanced Management Accounting, third edition.1 mô tả chi phí chu kỳ sống của sản phẩm được chia thành ba giai đoạn: giai đoạn hoạch định, giai đoạn sản xuất, và giai đoạn loại bỏ. Giai đoạn hoạch định là giai đoạn quan trọng nhất trong chi phí chu kỳ sống sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 phẩm, vì đây là giai đoạn ước lượng các chi phí cho cả vòng đời sản phẩm. Chi phí mục tiêu thì được dùng trong suốt giai đoạn hoạch định, hướng quá trình lựa chọn sản phẩm và quá trình thiết kế sản phẩm mà một sản phẩm được sản xuất với chi phí thấp, mức lợi nhuận có thể chấp nhận, và đưa ra giá bán sản phẩm cạnh tranh, và đảm bảo chức năng sản phẩm. Chi phí kaizen (cải tiến liên tục) thì tập trung vào nhận biết cơ hội để cải tiến chi phí trong suốt giai đoạn sản xuất.
Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào nghiên cứu giai đoạn hoạch định cũng chính là nghiên cứu xác định chi phí mục tiêu.4 Mục đích và tác dụng của chi phí mục tiêu 1.1 Mục đích của chi phí mục tiêu - Khảo sát để thiết lập một mức chi phí thấp cho sản phẩm trong giai đoạn thiết kế. - Làm cơ sở kiểm soát các chi phí trong giai đoạn sản xuất. - Giảm các chi phí sản xuất mà không giảm chất lượng của sản phẩm bằng cách loại bỏ những hoạt động không làm tăng thêm giá trị cho khách hàng. - Tạo động lực để tập thể nhân viên công ty cố gắng đạt được lợi nhuận mục tiêu trong suốt quá trình thiết kế sản phẩm bằng cách tạo ra môi trường hoạt động toàn công ty để hướng đến chi phí mục tiêu.2 Tác dụng của chi phí mục tiêu - Việc vận dụng công cụ chi phí mục tiêu sẽ cho phép các nhà quản trị kiểm soát chi phí được chặt chẽ hơn, sao cho vừa có thể đáp ứng được mức giá mà khách hàng mong muốn, vừa đạt được mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp với một mức chi phí hợp lý.
Từ đó, nó là công cụ hỗ trợ đắc lực cho chiến lược chiếm lĩnh thị trường hay mở rộng thị phần và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. - Giảm chi phí đầu vào cho quá trình sản xuất sản phẩm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Đạt được hai mục tiêu: Một là, sự hài lòng cho khách hàng; và Hai là, mục tiêu lợi nhuận cho doanh nghiệp. - Giảm được những thay đổi thiết kế sau khi bắt đầu sản xuất sản phẩm.2 Các nguyên tắc của chi phí mục tiêu Để ứng dụng thành công công cụ chi phí mục tiêu trong quản lý chi phí thì phải tuân thủ sáu nguyên tắc cơ bản sau của Ansari et al.1 Nguyên tắc thứ nhất, xác định chi phí phải hướng đến giá cả Giá cả được hiểu là giá thị trường, giá thị trường được áp dụng để quyết định sự phù hợp và cũng là giá bán mục tiêu.
Chi phí mục tiêu được tính bằng cách sử dụng một công thức tương tự như sau: Giá thị trường – (trừ) biên lợi nhuận = chi phí mục tiêu. Điều này cho thấy chúng ngược lại với quy trình xác định chi phí theo phương pháp truyền thống mà ở đó các chi phí lập nên giá cả - chi phí tăng thì giá cả tăng.2 Nguyên tắc thứ hai, đặt trọng tâm vào khách hàng Các yêu cầu của khách hàng về chất lượng, giá thành, thời gian được kết hợp một cách đồng thời trong sản phẩm và quyết định quy trình, hướng để phân tích giảm chi phí. Đối với khách hàng, giá trị của bất kỳ đặc điểm hoặc chức năng gì của sản phẩm phải lớn hơn chi phí cần thiết để khách hàng có được đặc điểm hoặc chức năng đó.3 Nguyên tắc thứ ba, đặc trọng tâm vào giai đoạn thiết kế Kiểm soát chi phí được chú trọng tại giai đoạn thiết kế sản phẩm. Vì vậy, các thay đổi về kỹ thuật phải được thực hiện trước quá trình sản xuất sẽ đem lại kết quả làm giảm chi phí và giảm thời gian gia nhập thị trường (đưa vào sử dụng) đối với những sản phẩm mới.Nguồn: By Dan Swenson, Ph., CMA, CPA; Shahid Ansari, Ph.,; Jan Bell, Ph., CPA; And IL- Woon Kim, Ph.D (2003),Best Practices in Target Costing, Management Accounting Quarterly, Winter 2003, Vol.2, pp 12-17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Nguyên tắc thứ tư, nguồn nhân lực đa năng Đội ngũ chuyên gia xử lý sản phẩm và quy trình đa năng có trách nhiệm xem xét toàn bộ sản phẩm từ những công đoạn ban đầu đến công đoạn sản xuất cuối cùng.
Nó có thể bao gồm các phạm vi khác nhau được cần đến như kỹ thuật, sản xuất, kinh doanh, tiếp thị, nguyên vật liệu, chi phí, dịch vụ và các hoạt động hỗ trợ khác. Ngoài ra, còn các thành phần tham gia bên ngoài như các nhà cung cấp, khách hàng, đại lý bán, các nhà phân phối, những người cung cấp, và các nhà tái chế cũng phải được bao gồm trong quá trình thiết kế ở các giai đoạn đầu của chu kỳ phát triển của sản phẩm.5 Nguyên tắc thứ năm, kết hợp chuỗi giá trị Mọi phần tử của chuỗi giá trị như nhà cung cấp, nhà phân phối, nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng đều được xem xét đến trong quá trình xác định chi phí mục tiêu.6 Nguyên tắc thứ sáu, định hướng chu kỳ sống sản phẩm Chi phí trong toàn bộ vòng đời sản phẩm phải được hạn chế tối đa cho cả nhà sản xuất và khách hàng. Chi phí này bao gồm giá mua, chi phí bảo hành và chi phí phân phối.3 Phân tích giá trị (Value Engineering : VE) Phân tích giá trị là một trong ba công cụ (Phân tích giá trị; phân tích phá hủy và thiết lập lại) chủ yếu được sử dụng để xác định chi phí mục tiêu4.