mở đầu của một chu trình ngân sách, nhằm mục đích để phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính của Nhà nƣớc nhằm xác lập các chỉ tiêu thu chi ngân sách Nhà nƣớc hàng năm một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào Chỉ thị của Thủ tƣớng Chính phủ, Thông tƣ hƣớng dẫn, số kiểm tra về dự toán ngân sách của Bộ Tài chính, căn cứ vào định hƣớng phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của địa phƣơng, căn cứ khả năng cân đối ngân sách địa phƣơng, hƣớng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị trực thuộc và Uỷ ban nhân dân cấp dƣới. Khi lập dự toán chi thƣờng xuyên NSNN phải dựa trên những căn cứ sau: - Các chủ trƣơng, chính sách của Nhà nƣớc về duy trì và phát triển các hoạt động thuộc bộ máy quản lý Nhà nƣớc, hoạt động sự nghiệp, hoạt động quốc phòng - an ninh và các hoạt động xã hội khác trong từng giai đoạn nhất định. Trên cơ sở đó, việc xây dựng dự toán NSNN sẽ đáp ứng đƣợc yêu cầu của Nhà nƣớc, sát với thực tiễn hoạt động và mang tính hiệu quả cao.
- Các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố. Các chỉ tiêu này cụ thể hóa các chủ trƣơng, chính sách của Nhà nƣớc trong từng giai đoạn, góp phần định lƣợng cho công tác quản lý chi NSNN. - Khả năng cân đối nguồn kinh phí đáp ứng cho nhu cầu chi thƣờng xuyên kỳ kế hoạch. Khả năng này đƣợc dự đoán dựa vào cơ cấu thu ngân sách Nhà nƣớc kỳ báo cáo và mức tăng trƣởng của các nguồn thu kỳ kế hoạch.
14 - Kết quả báo cáo, phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí chi thƣờng xuyên kỳ báo cáo sẽ làm cơ sở và tài liệu tham khảo cho việc xây dựng dự toán kỳ kế hoạch. Chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách thành phố Chấp hành dự toán chi thƣờng xuyên là một trong những nội 10 dung quan trọng của chấp hành dự toán chi ngân sách Nhà nƣớc - là khâu thứ hai của chu trình quản lý ngân sách Nhà nƣớc. Thời gian tổ chức chấp hành ngân sách Nhà nƣớc ở nƣớc ta đƣợc tính từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 năm dƣơng lịch. - Việc phân phối nguồn vốn phải đảm bảo hợp lý, tập trung có trọng điểm trên cơ sở dự toán chi đã xác định.
- Công tác cấp phát kinh phí phải đƣợc thực hiện kịp thời, chặt chẽ, tránh gây lãng phí thất thoát nguồn vốn của NSNN. - Tuân thủ nguyên tắc thanh toán trực tiếp qua Kho bạc nhà nƣớc. Chi ngân sách chỉ đƣợc thực hiện khi có đủ các điều kiện đã có trong dự toán ngân sách đƣợc giao; đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền qui định; đã đƣợc thủ trƣởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc ngƣời đƣợc ủy quyền quyết định chi. Quản lý các khoản chi là hƣớng tới mục tiêu đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả, các cơ quan thẩm quyền và chuyên môn của địa phƣơng phải luôn coi tiết kiệm và hiệu quả là tiêu thức cơ bản khi xác lập các biện pháp quản lý, từ đó quản lý chặt chẽ từ các đối tƣợng sử dụng ngân sách, đối tƣợng thụ hƣởng ngân sách, quản lý có hiệu quả các khâu xây dựng dự toán, xây dựng tiêu chuẩn, định mức, chấp hành và quyết toán ngân sách, thƣờng xuyên phân tích đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm, trên cơ sở đó đổi mới cơ cấu chi, các biện pháp quản lý chi.
Quyết toán chi thường xuyên ngân sách thành phố Quyết toán chi thƣờng xuyên ngân sách thành phố là tổng kết quá trình 15 thực hiện dự toán chi thƣờng xuyên ngân sách thành phố nhằm đánh giá kết quả hoạt động của một năm, từ đó rút ra ƣu, nhƣợc điểm và bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách thành phố. Sau khi thực hiện xong công tác khoá sổ cuối ngày 31 tháng 12 hàng năm, số liệu trên sổ sách của mỗi đơn vị phải đảm bảo cân đối và khớp đúng với số liệu của Kho bạc cả về tổng số và chi tiết. Khi đó đơn vị mới đƣợc tiến hành lập báo cáo quyết toán năm để gửi xét duyệt. Đơn vị dự toán cấp dƣới lập báo cáo quyết toán năm gửi đơn vị dự toán cấp trên.
Trong thời gian tối đa 20 ngày kể từ ngày nhận đƣợc báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dƣới, đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm xét duyệt quyết toán và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán cho đơn vị dự toán cấp dƣới. Sau 10 ngày kể từ ngày nhận đƣợc thông báo xét duyệt quyết toán của đơn vị dự toán cấp trên, đơn vị dự toán cấp dƣới không có ý kiến gì thì coi nhƣ đã chấp nhận để thi hành. Công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý chi thường xuyên ngân sách thành phố Thực hiện kiểm tra, giám sát một cách đột xuất tại đơn vị bằng việc tổ chức thanh tra tài chính. Hình thức này sẽ do cơ quan chức năng chuyên trách của ngành hoặc của Nhà nƣớc thực hiện, mỗi khi phát hiện thấy có dấu hiệu không lành mạnh trong quản lý tài chính của đơn vị nào đó.
Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán chi ngân sách đƣợc thực hiện bởi nhiều cơ quan. Trong đó, chịu trách nhiệm chính và trƣớc hết là Thủ trƣởng các đơn vị dự toán phải thƣờng xuyên tự kiểm tra đối chiếu với chính sách chế độ về quản lý ngân sách để đảm bảo việc chi đúng chính sách, chế độ quy định. Các Bộ, các đơn vị dự toán cấp trên chịu trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành các chế độ chi và quản lý chi ngân sách, quản lý tài sản nhà nƣớc của các đơn vị trực thuộc và hƣớng dẫn các đơn vị này thực hiện việc kiểm tra trong đơn vị mình. Cơ quan Tài chính, cơ quan Kho bạc Nhà nƣớc 16 có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm soát thƣờng xuyên, định kỳ đối với các đơn vị sử dụng ngân sách.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi NSNN qua KBNN 1. Nhân tố khách quan * Luật ngân sách Nhà nƣớc Đối với các nƣớc có luật NSNN thì luật này luôn quy định vai trò và trách nhiệm của KBNN trong các nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN, kiểm soát thu chi và kế toán NSNN. Luật NSNN là yếu tố pháp lý, tạo nền tảng cho phát triển các nghiệp vụ kiểm soát chi NSNN. * Chiến lƣợc tài chính Chiến lƣợc tài chính giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định tám nhóm giải pháp chính, trong nhóm giải pháp thứ hai đã chỉ ra quan điểm: - Nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý, sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nƣớc.
Hoàn thiện các quy định về phân định nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách phù hợp với chức năng nhiệm vụ của các cấp chính quyền. Đổi phƣơng thức lập dự toán và phân bổ dự toán NSNN. Tăng cƣờng quản lý, giám sát đầu tƣ từ nguồn vốn NSNN. - Đổi mới cơ cấu và phƣơng thức đầu tƣ của NSNN cho lĩnh vực sự nghiệp công.
Nghiên cứu thực hiện chuyển đổi cơ chế phân bổ chi thƣờng xuyên từ NSNN sang cơ chế nhà nƣớc đặt hàng. * Dự toán NSNN Dự toán NSNN là một trong những căn cứ quan trọng nhất để KBNN thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chi NSNN. Do đó dự toán NSNN phải đảm bảo kịp thời, chính xác về nội dung chi, mức chi phải phù hợp với thực tế, phải đầy đủ, bao quát hết các nhu cầu chi tiêu của đơn vị trong năm ngân sách, và phải chi tiết, dự toán NSNN càng chi tiết thì việc kiểm soát chi của KBNN càng thuận lợi và chặt chẽ. Dự toán NSNN làm căn cứ cho KBNN kiểm tra, kiểm soát quá trình chi tiêu của đơn vị.
17 * Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN: Hệ thống chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN là căn cứ quan trọng việc xây dựng, phân bổ, kiểm soát chi NSNN. Vì vậy nó phải đảm bảo tính chính xác, phù hợp với tình hình thực tế, tính thống nhất giữa các ngành, các địa phƣơng, đơn vị thụ hƣởng NSNN và tính đầy đủ, bao quát tất cả các nội dung chi phát sinh trong thực tế. * Các chính sách, chế độ tài chính: Các chính sách, chế độ tài chính - kế toán liên quan đến kiểm soát chi NSNN nhƣ: Kế toán Nhà nƣớc, Mục lục NSNN, Định mức phân bổ NSNN, Định mức chi NSNN, dự toán chi NSNN, Hợp đồng mua sắm tài sản công, Công cụ thanh toán, Kế toán NSNN. * Ý thức chấp hành của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN: Cần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành Luật của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN, để họ thấy kiểm soát chi NSNN là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các đơn vị và các cá nhân có liên quan quỹ NSNN chứ không phải đó chỉ là công việc riêng của ngành Tài chính, KBNN.
Các cấp, các ban ngành cần nhận thấy vai trò của mình trong quá trình quản lý quỹ chi NSNN từ khâu lập dự toán, phân bổ dự toán, thông báo hạn mức kinh phí cấp phát thanh toán, kế toán và quyết toán các khoản chi NSNN. Ngoài ra việc kiểm soát chi NSNN qua KBNN muốn đạt kết quả cao cần đòi hỏi đến một số điều kiện khác nhƣ hiện đại hóa công nghệ KBNN, hoàn thiện hệ thống kế toán và quyết toán NSNN, hiện đại hóa công nghệ thanh toán của KBNN và của cả nền kinh tế. Nhân tố chủ quan * Chức năng, nhiệm vụ của KBNN: Việc kiểm soát chi NSNN qua KBNN đòi hỏi phải có một vị thế, vai trò lớn hơn. Vì vậy, việc quy định chức năng, nhiệm vụ của KBNN một cách rõ ràng, cụ thể sẽ tăng cƣờng đƣợc vị trí, vai trò của KBNN, đồng thời 18 cũng nâng cao đƣợc hiệu quả công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN.
* Cơ cấu tổ chức bộ máy của KBNN Trong cơ cấu tổ chức bộ máy phải quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng phòng mối quan hệ giữa các phòng trong bộ máy tránh sự chồng chéo, không rõ ràng, gây khó khăn cho công tác quản lý. Dễ dẫn đến tình trạng thiếu trách nhiệm, tranh công đổ lỗi, lạm dụng quyền hành trong công việc để vụ lợi cá nhân.