Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước gắn với mục tiêu PTBYV tại địa phương. Chương 2: Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước tại huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quan tri chi ngân sách của huyện Thạch Thất theo mục tiêu PTBV trong giai đoạn 2023-2028. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC GAN VỚI MỤC TIÊU PHÁT TRIEN BEN VUNG TẠI DIA PHƯƠNG 1.
Tổng quan chỉ ngân sách nha nước 1. Khái niệm và đặc điểm chỉ ngân sách nhà nước 1.1, Khái niệm chỉ ngân sách nhà nước Theo Bùi Tiến Hanh (2018), được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của Nhà nước và kinh tế hàng hóa, NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thâm quyền quyết định và thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Theo hình thức biểu hiện, chi NSNN là toàn bộ các khoản chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thâm quyền quyết định dé bao đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vu của Nhà nước. Theo chu trình NSNN, chi NSNN là quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn tài chính tập trung vào quỹ NSNN từ các khoản thu của Nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi NSNN bao gồm các khoản thu NSNN và các khoản vay dé bu đắp bội chi NSNN, kể các khoản viện trợ hoàn lại của Nhà nước và các tô chức quốc tế.
Các khoản thu của Nhà nước tập trung vào quỹ NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi NSNN bao gồm các khoản thu NSNN và các khoản vay dé bù đắp bội chi NSNN, kể cả các khoản viện trợ hoàn lại của các nước va các tổ chức quốc tế. NSNN là công cụ tài chính của Nhà nước, phục vụ thực hiện các chức năng và nhiệm vu cụ thé của Nhà nước trong từng thời ky. Chức năng và nhiệm vụ của Nha nước quyết định đến các nhiệm vụ chi NSNN. Các nhu cầu chi được bảo đảm bằng nguồn tài chính NSNN là các nhu cầu chi thuộc nhiệm vụ chi NSNN.
Không được dùng NSNN dé đáp ứng các nhu cầu chi không thuộc nhiệm vụ chi NSNN hay tự đặt ra các khoản chi trái với quy định của pháp luật. Quá trình phân bổ các nguồn tài chính dé đáp ứng các nhiệm vụ chi NSNN thực chat là quá trình xây dựng, quyết định, phân bổ kế hoạch chi NSNN trung hạn và dự toán chi NSNN hàng năm (Quý Lâm, 2017). 11 Như vậy, có thé hiểu chi ngân sách là hoạt động phân bổ va sử dụng quỹ NSNN theo dự toán được phê duyệt từ các cơ quan nhà nước có thâm quyền để đảm bảo nguồn lực cần thiết trong thực hiện hiệu quả các hoạt động và chức năng của Nhà nước. Chi ngân sách thường đề cập đến các khoản chi cho phát triển kinh tế, đảm bảo các vấn đề an ninh quốc gia, các hoạt động đầu tư hạ tầng, nâng cao chất lượng xã hội.
Đặc điểm chỉ ngân sách nhà nước Thứ nhất, chi NSNN là chi tiêu công của quốc gia. Nhà nước là chủ thé của NSNN được hình thành từ các khoản thu do các chủ thể trong xã hội nộp vào NSNN. Quỹ NSNN là quỹ tài chính công của quốc gia. Nhà nước đại diện cho người dân thực hiện các khoản chi NSNN phục vụ cho lợi ích chung của người dân.
Các nhiệm vụ chi NSNN về quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước, giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường, ngoại giao, đầu tư cơ sở hạ tầng KT - XH. nhằm cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cộng cho xã hội và giải quyết các vấn đề an sinh xã hội nhằm bảo đảm hiệu quả, công bang và 6n định KT - XH của quốc gia (Bùi Tiến Hanh, 2018). Thứ hai, chi NSNN có quy mô lớn và phạm vi rộng, da dang và phức tạp, gắn với bộ máy nhà nước và các nhiệm vụ chính trị, KT - XH của Nhà nước trong từng thời kỳ. Các khoản chi ngân sách bao phủ nhiều mặt từ quốc phòng, an ninh va trật tự an toàn xã hội, giáo dục — dao tạo, đến bảo vệ môi trường.
Tổ chức bộ máy và các nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước, sự lựa chọn cung ứng hàng hóa công cộng của Nhà nước trong từng thời kỳ có tác động trực tiếp đến quy mô, phạm vi và cơ cau chi NSNN. Thứ ba, chi NSNN chủ yếu là không hoàn trả trực tiếp. Đặc điểm này là do các khoản chi ngân sách chủ yếu được dùng trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao. Các don vị sử dụng ngân sách không phải hoàn trả số ngân sách đã sử dụng cho Nhà nước khi đã hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Thứ tư, hiệu qua chi NSNN là hiệu qua KT - XH vĩ mô. Nhà nước có chức năng và nhiệm vụ bảo đảm lợi ích chung của toàn xã hội trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, xã hội. Giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích như lợi ích quốc gia, 12 lợi ích từng địa phương, lợi ích chung của xã hội và lợi ích của từng chủ thé trong nên kinh tế: trong đó, lợi ích quốc gia và lợi ích chung của toàn xã hội được đặt lên hàng đầu, lợi ích của từng địa phương và lợi ích của từng chủ thé là động lực thúc đây sự phát triển của quốc gia và của toàn xã hội. Mọi chủ thê luôn quan tâm đến chỉ phí bỏ ra và lợi ích đạt được khi thực hiện các khoản chi ngân sách của mình.
Tư nhân quan tâm chủ yếu đến lợi ích của chính ho và chi phí trực tiếp bỏ ra, ít quan tâm đến lợi ích chung và chi phí của xã hội như chi phí khắc phục ô nhiễm môi trường, chi phi giảm nghèo, quốc phòng. Trái lại, gắn với chức năng và việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, Nhà nước luôn phải quan tâm đến lợi ích tổng thé về chính trị, kinh tế, xã hội ở tầm vĩ mô và chi phí của toàn xã hội, trong đó có chi phí do Nhà nước bỏ ra khi thực hiện các khoản chi ngân sách nhà nước nhằm đạt được mục tiêu ổn định, công bang va hiệu quả của toàn bộ nên kinh tế. Nhận thức đặc điểm này, đòi hỏi quản lý chỉ NSNN phải xem xét và đánh giá hiệu quả các khoản chỉ NSNN một cách toàn diện trên tất cả các mặt chính trỊ, kinh tế, xã hội; chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp, chi phí của Nhà nước và chi phí của các chủ thể khác trong xã hội, lợi ích trực tiếp và lợi ích gián tiếp, lợi ích của Nhà nước và lợi ích của các chủ thê khác trong xã hội, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài (Trần Đức Huy, 2022). Phân loại chỉ ngân sách nhà nước Theo Bùi Tiến Hanh (2018), chỉ NSNN được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin cho các mục đích khác nhau trong việc hoạch định chính sách và tổ chức quản lý chi NSNN ở từng thời kỳ phát triển KT — XH của quốc gia.
Ở Việt Nam, chi NSNN được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau thể hiện trong hệ thống mục lục NSNN. Các khoản chi NSNN được phân loại thành các chương, loại và khoản, mục và tiêu mục, tiểu nhóm và nhóm, chương trình, mục tiêu và dự án quốc gia, nguồn NSNN, cấp NSNN. Phân loại theo tổ chức Theo tổ chức, các khoản chi NSNN được sắp xếp thành các Chương dựa trên cơ sở hệ thong tổ chức của các cơ quan, tổ chức trực thuộc một cấp chính quyền 13 được tô chức quản lý ngân sách riêng. Phân loại theo tô chức nhăm cung cấp thông tin xác định trách nhiệm giải trình của từng tô chức về quản lý chi NSNN.
Chương phản ánh số chi NSNN giao cho từng co quan, t6 chức trực thuộc từng cấp chính quyền trung ương, tỉnh, huyện và xã được tổ chức quản lý ngân sách riêng. Mỗi cấp ngân sách bố trí một Chương riêng để phản ánh các khoản chỉ ngân sách không thuộc dự toán giao cho các cơ quan, tô chức với tên gọi “Các quan hệ khác của ngân sách”. Chi NSNN thuộc trung ương có các Chương như Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Bộ Tài chính. Chi NSNN thuộc cấp tỉnh có các Chương như Văn phòng HĐND, Văn phòng UBND.
Chi NSNN thuộc cấp huyện có các Chương như Văn phòng HĐND và UBND, Phòng Tài chính - Kế hoạch. Chỉ NSNN cấp xã có các Chương như HĐND, Văn phòng UBND. Phân loại theo chức năng Theo chức năng của Nhà nước, các khoản chi NSNN được sắp xếp theo các lĩnh vực KT - XH, bao gồm các Loại và Khoản. Loại phản ánh các khoản chi NSNN theo từng lĩnh vực KT - XH.
Khoản là phân loại chỉ tiết của Loại, phản ánh các khoản chi NSNN theo từng ngành kinh tế quốc dân được cấp có thâm quyền phê duyệt. Phân loại theo chức năng nhăm cung cấp thông tin phục vụ cho phân tích lịch sử và hoạch định chính sách chi NSNN. Chi NSNN ở Việt Nam hiện nay được phân loại thành 14 lĩnh vực tương ứng là 14 Loại: quốc phòng; an ninh và trật tự xã hội; giáo dục - đào tạo và dạy nghề; khoa học và công nghệ; y tế, dân số và gia đình; văn hóa thông tin; phát thanh, truyền hình, thông tan; thé dục thé thao; bảo vệ môi trường; các hoạt động kinh tế; hoạt động của các cơ quan quan ly nhà nước, Dang, Đoàn thé; bảo đảm xã hội; tài chính và khác; chuyên giao, chuyền nguồn. Mỗi loại được chia thành các khoản.
Phân loại theo nội dung kinh té Theo nội dung kinh tế, các khoản chỉ NSNN được sắp xếp thành các Mục, Tiểu mục, Tiêu nhóm và Nhóm. Phân loại theo nội dung kinh tế nhằm cung cấp thông tin phục vụ mục đích kiểm soát tuân thủ ngân sách va phân tích kinh tế về chi NSNN. 14 Mục phan ánh các khoản chi NSNN theo các nội dung kinh tế được quy định trong các chính sách, chế độ chi NSNN như tiền lương, tiền công, phụ cấp, vật tư văn phòng. Tiểu mục phản ánh chi tiết các khoản chi NSNN theo yêu cầu quản lý cụ thể trong từng mục.
Tiểu nhóm phản ánh tập hợp các Mục có tính chất giống nhau theo yêu cầu quản lý, như Tiểu nhóm chi thanh toán cho cá nhân là tập hợp các Mục chi tiền lương, phụ cấp lương, học bồng.