Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện/thành phó trực thuộc tỉnh Chương 2: Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước của Thành phó Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý chị thường xuyên ngân sách nhà nước tại Thành phó Phủ Lý, tỉnh Hà Nam CHUONG 1: CO SO LY LUAN VA KINH NGHIEM THUC TIEN VE QUAN LY CHI THUONG XUYEN NGAN SACH NHA NUOC CAP HUYEN/THANH PHO TRUC THUOC TINH 1. Một số vấn đề cơ bản về chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện/thành phố trực thuộc tỉnh 1. Khái niệm chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước Theo Sử Đình Thành và Bùi Thị Mai Hoa (2009) “Chi thường xuyên ngân sách nhà nước là những khoản chỉ phát sinh tương đối đều đặn về thời gian và quy mô các khoản chỉ. Nói cách khác là những khoản chỉ được lặp đi lặp lại tương đối ồn định theo chu kỳ thời gian cho những đối tượng nhất định”.
Theo Nguyễn Văn Tuyến (2007) thì Chi thường xuyên ngân sách nhà nước là quá trình phân bổ và sử dụng thu thập từ các quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu chỉ gan liền với việc thực hiện nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế- xã hội. Chi thường xuyên có phạm vi rộng, gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước. Khoản chi này mang tính chất tiêu dùng, quy mô và cơ cấu chỉ thường xuyên phụ thuộc chủ yếu vào tổ chức bộ máy nhà nước” Theo Phương Thị Hồng Hà (2006) thì chi thường xuyên ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước đề đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với thực hiện các nhiệm vụ của Nhà Nước về lập pháp, tư pháp và một số dịch vụ công khác mà nhà nước phải cung ứng Theo Luật NSNN Nhà nước năm 2015, Chi thường xuyên của ngân sách Nhà nước là nhiệm vụ chỉ của NSNN nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an nình. Các khoản chỉ NSNN thường xuyên là các khoản chi hàng năm mà chính phủ của mỗi nước thực hiện các nhiệm vụ theo chức trách, quyền hạn của chính phủ.
Những chỉ phí này cũng được coi là tổng chỉ NSNN thường xuyên, bởi vì chúng được thực hiện năm nay sang nam khác, và ngược lại với chỉ NSNN đầu tư, phát triển, bởi vì khoản chi NSNN đầu tư, phát triển chấm dứt khi một hoạt động hoặc một chương trình hoàn tất, kết thúc và được chuyên về cơ quan quản lý nhà nước. Chi NSNN thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu của cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đảo tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ môi trường và các hoạt động sự nghiệp khác. * Phân loại chi ngân sách nhà nước Phân loại chỉ NSNN là việc phân loại từng khoản chỉ NSNN theo từng tiêu chí cụ thể của mỗi đối tượng, từng khoản chi. Việc phân loại chỉ NSNN có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc quản lý chỉ NSNN.
Qua việc phân loại chỉ NSNN sẽ có giải pháp quản lý đúng đắn, thích hợp với điều kiện, tính chất của các khoản chi. Mục đích của việc phân loại chỉ NSNN là: thực hiện hạch toán chỉ NSNN và phan ánh thực trang chi NSNN, phục vụ cho việc lập kế hoạch NSNN, phục vụ các cấp có thầm quyền đưa ra quyết định chính sách phù hợp nhất đối với việc quản lý và thực hiện chính sách chi tiêu NSNN theo kế hoạch từng năm, trung hạn và dải hạn; tạo thuận lợi cho các đơn vị quản lý nhà nước về NSNN. các đối tượng sử dụng NSNN, người dân. theo dõi, thanh tra, giám sát, đánh giá việc phân bổ và sử dụng nguồn lực Tài chính công, thực hiện công khai, minh bạch thu chi NSNN tai từng cấp và phân định trách nhiệm của từng cá nhân có trách nhiệm trong quản lý việc sử dụng nguồn lực Tài chính công.
Việc phân loại chỉ NSNN theo: + Phân loại theo tính chất của khoản chỉ NSNN Căn cứ theo tính chất của chỉ ngân sách, các khoản chỉ đó có tính chất tích trữ hay sử dụng trong giai đoạn chỉ tiêu NS để phân tách chỉ NS thành chỉ đầu tư phát triển (ÐĐTPT) và chi tiêu thường xuyên. Chi ĐTPT: Là các khoản thu NS tạo ra cơ sở vật chất về kết cầu hạ tầng KT- XH gồm: cầu, đường sá, chợ, cơ sở y tế, nhà văn hoá, mạng lưới nước sạch công cộng, kênh mương tưới tiêu. Đó là khoản chi chủ yêu nhăm tạo ra của cải mới, giúp gia tăng hiệu suất làm việc và tạo ra thu nhap cho nén kinh tế. Chi thường xuyên: gồm các khoản chi thường xuyên được phân bổ từ ngân sách địa phương cho các đơn vị sử dụng ngân sách bao gồm: chỉ tiền lương bồi dưỡng cán bộ, công chức, bảo đảm đời sống, các khoản chỉ phục vụ công tác an ninh trật tự, chi hoạt động văn hoa giao duc va chi khấu hao đối với các tài sản cố định trong biên chế của bộ máy nhà nước.
+ Phân loại theo lĩnh vực chỉ NSNN Phân loại chi NSNN là việc phân loại từng khoản chỉ NSNN theo từng chỉ tiêu cố định của các nguồn, từng đối tượng chi. Việc phân loại chỉ NSNN có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình quản lý chỉ NSNN. Qua việc phân loại chỉ NSNN sẽ có phương pháp quản lý cụ thể, phù hợp với nội dung, tính chất của mỗi khoản chi. Mục đích của việc phân loại chỉ NSNN bao gồm: thực hiện dự toán chỉ NSNN và tổng hợp nhu cầu chỉ NSNN, giúp ích cho việc hoạch định thu chỉ NSNN, giúp việc cho người có thâm quyền đặt ra chế độ chính sách hợp lí nhất đối với việc quản lý và điều hành chế độ chi tiêu NSNN theo kế hoạch từng năm, trung hạn và dài hạn; tạo điều kiện cho các đơn vị quản lý nhà nước về NSNN, các cơ quan sử dụng Tài chính, người dân.
theo dõi, kiểm tra, giám sát, thống kê công tác quản lí và sử dụng nguồn lực Tài chính công, thực hiện công khai, dân chủ hoạt động NSNN nhà nước mỗi cấp và công khai trách nhiệm của từng chủ thể có trách nhiệm về quản lý và sử dụng nguồn lực Tài chính công. Việc phân loại chỉ NSNN theo: + Phân loại theo tính chất của khoản chỉ NSNN Căn cứ theo tính chất của chỉ NS, những khoản chỉ không có tính chất tích luỹ hay là sử dụng theo thời kỳ chỉ tiêu NS có thể phân tách thu NS làm chỉ tiêu Quỹ Đầu tư phát triển (ĐTPT) và chi tiêu thường xuyên. Chi ĐTPT: Là các khoản thu NS tạo ra cơ sở vật chất hoặc hạ tầng KT-XH bao gồm: cầu, chợ, trường lớp, cơ sở đào tạo, bệnh viện, công trình nước sạch nông thôn, kênh mương nội đồng. Đó là khoản CTX giúp tạo lập nên của cải mới, nhằm tăng cường năng suất lao động góp phần tạo ra của cải đối với nền kinh tế.
Chi khác: là các khoản chi NS hỗ trợ hoạt động của bộ máy công quyền nhằm thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của bộ máy chính quyền, không trực tiếp tạo ra tài sản cô định vật chat, gồm: CTX đối với lãnh đạo, viên chức, duy trì cuộc sống, trừ khoản chi phục vụ công tác an ninh quốc phòng, hoạt động sự nghiệp văn hoá khác và chỉ mua sắm duy trì các trang thiết bị phục vụ công tác của bộ máy hành chính. + Phân loại theo chương trình, dự án cấp quốc gia, địa phương Phân loại theo chương trình, dự án cấp quốc gia, địa phương là phân loại căn cứ trên tổng dự toán chi NS phân bồ theo từng chương trình mục tiêu cấp quốc gia hay cấp địa phương. Cách phân loại này để dễ dàng quản lý, giám sát kết quả, nhiệm vụ chi NS theo từng chương trình mục tiêu quốc gia, địa phương đã ban hành. Các khoản chỉ ngoài NS (bao gồm chỉ ĐTPT và chi sự nghiệp) của các chương trình mục tiêu quốc gia (như Chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn) hoặc của địa phương, đều cần quản lý (lập dự toán, thực hiện, báo cáo tài chính) theo các chương trình, mục tiêu.
Các khoản chỉ NS không theo chương trình mục tiêu, đều không quản lý theo chương trình mục tiêu. Nguyên tắc quản lý theo chương trình mục tiêu cần được tuân thủ tại toàn bộ các bước của quy trình quản lý NSNN (trừ việc xây dựng dự toán, lập, duyệt dự toán và thực hiện dự toán; kế toán và quyết toán N8). Đặc điểm, phân loại chỉ thường xuyên ngân sách nhà nước cấp huyện/thành phố Chi thường xuyên NSNN cấp huyện/thành phố trực thuộc tỉnh gồm có các đặc điểm sau: Thứ nhất, có khả năng ổn định khá rõ rệt đối với hầu hết các khoản CTX. Dù có sự thay đối về thể chế chính sách, những chức năng vốn có của Nhà nước như: Điều tiết, giám sát và quản lí vận hành các hoạt động kinh tế, xã hội cũng còn cần được duy trì.
Thứ hai, hầu hết các khoản CTX của NSNN có tính bình ổn theo khoảng thời gian cố định và có khả năng điều chỉnh cao tuỳ thuộc theo qui mô chỉ tiêu NSNN nha nước theo từng niên độ và mục dich su dung cuối cùng của vốn chỉ tiêu. Thứ ba, quy mô, mức độ CTX của NSNN gắn bó chặt chẽ với sự điều hành của bộ máy Nhà nước và sự chọn lựa của Nhà nước đối với việc cung cấp các dịch vụ công cộng. Việc khai thác và sử dụng vốn NSNN với vai trò là một nguồn lực tài chính quan trọng của nhà nước cũng cần hướng tới việc bảo đảm sự vận hành hữu hiệu của bộ máy Nhà nước đó. Tổng số CTX của Nhà nước sẽ ít hơn nếu bộ máy Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu quả và tiết kiệm.
Đối với phạm vi và mức độ CTX của NSNN thì vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết phạm vi và mức độ cung ứng của hàng hoá thiết yếu cũng sẽ có ảnh hưởng tương ứng.