CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT CHI Chung Thị Hải-Luận văn thạc sỹ 1 PT và tìm GP nâng cao HQ hoạt động KSC TX NSNN tại KBNN Bà Rịa-Vũng Tàu 1. Một số khái niệm về hoạt động KSC NSNN. Khái niệm kiểm soát trong quản lý. Quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các mục tiêu đã định trên cơ sở những nguồn lực xác định nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Đặc điểm của quản lý là tác động có hướng đích, có mục tiêu xác định; thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Hoạt động quản lý bao gồm các chức năng cơ bản: dự báo, hoạch định, tổ chức, điều hành, kiểm tra và đánh giá. Trong đó, kiểm tra là chức năng quan trọng, nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý. Kiểm tra là việc xem xét để đánh giá, phân loại, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với mục tiêu, kế hoạch đã định để điều chỉnh các mục tiêu hay định hướng cho các hoạt động.
Nếu nội dung kiểm tra cần thời gian dài, mức độ chi tiết, phạm vi rộng, tính chất phức tạp và thường gắn liền với xử lý thì được gọi là thanh tra, như vậy giữa kiểm tra và thanh tra không có một ranh giới rõ ràng. Kiểm soát là công việc nhằm soát xét lại những quy định, những quá trình thực thi các quyết định quản lý được thể hiện trên các nghiệp vụ để nắm bắt, điều hành và quản lý. Nói một cách chung nhất, kiểm soát được hiểu là tổng hợp những phương sách để nắm bắt và điều hành đối tượng quản lý. Như vậy có thể hiểu cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua chính sách hoặc biện pháp cụ thể; nội bộ đơn vị tự kiểm soát; cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát việc tuân thủ pháp luật đối với đối tượng quản lý theo quy định.
Quá trình quản lý, kiểm soát phải tuân thủ theo ba bước cơ bản: Một là, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn dựa trên cơ sở của những mục tiêu quản lý. Hai là, đo lường việc thực hiện theo những tiêu chuẩn đã xây dựng, ở bước này người quản lý sẽ nhận được những thông tin về đối tượng quản lý. Ba là, dựa trên những thông tin thu thập được ở bước hai, người quản lý đánh giá, điều chỉnh các sai lệch trong thực hiện. Khái niệm về NSNN.
Lịch sử nhân loại đã cho thấy, khi xuất hiện Nhà nước thì Nhà nước đó phải có nguồn lực để bảo vệ chính thể nhà nước và đảm bảo cho các mặt hoạt động phát triển của mình. Một trong những nguồn lực quan trọng nhất là NSNN. Do đó khi xuất hiện Nhà nước tất yếu phải có NSNN. NSNN phục vụ cho giai cấp thống trị.
Nó là công cụ để giai cấp thống trị bảo vệ nhà nước, đảm bảo hoạt động bộ máy nhà nước, đồng thời là công cụ để hoàn thiện quản lý nhà nước của mình. Chung Thị Hải-Luận văn thạc sỹ 2 PT và tìm GP nâng cao HQ hoạt động KSC TX NSNN tại KBNN Bà Rịa-Vũng Tàu Ở Việt Nam, qua các giai đoạn lịch sử phát triển hàng ngàn năm của dân tộc, NSNN Việt Nam cũng hình thành và là nhân tố không thể thiếu của các chế độ xã hội trước đây. Từ ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và thành lập Nước đến nay Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến NSNN, coi đó là nguồn lực vô cùng quan trọng thực hiện thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc trước đây đồng thời bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay và mai sau. Khái niệm NSNN: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Khái niệm về chi NSNN. Chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Về thực chất, chi NSNN chính là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước. Cho nên, chi NSNN có những đặc điểm sau: Chi NSNN luôn gắn với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước phải đảm nhận. Mức độ và phạm vi chi tiêu NSNN phụ thuộc vào nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ; Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về kinh tế, xã hội, chính trị và ngoại giao; Các khoản chi NSNN đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp; Chi NSNN thường liên quan đến phát triển kinh tế, xã hội, tạo việc làm mới, thu nhập, giá cả và lạm phát … Hiện nay chi NSNN gồm có: - Chi đầu tư phát triển - Chi thường xuyên NSNN - Chi viện trợ - Chi trả nợ lãi, phí - Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính - Chi cho vay. Chung Thị Hải-Luận văn thạc sỹ 3 PT và tìm GP nâng cao HQ hoạt động KSC TX NSNN tại KBNN Bà Rịa-Vũng Tàu Trong đó: Chi thường xuyên NSNN bao gồm: Chi đảm bảo kinh phí cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục-đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác; quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; hoạt động của các cơ quan nhà nước; hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam; các đoàn thể; trợ giá theo chính sách của Nhà nước; cho các chương trình mục tiêu quốc gia; trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội và các khoản chi thường xuyên khác.
Khái niệm KSC NSNN. KSC NSNN (bao gồm: chi thường xuyên, chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi khác .) là việc KBNN tiến hành thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN phù hợp với các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu do nhà nước quy định theo những nguyên tắc, điều kiện, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong quá trình cấp phát và thanh toán các khoản chi của NSNN theo các chính sách, chế độ, định mức quy định. Nội dung KSC thường xuyên ngân sách qua KBNN. Theo Điều 8 của Thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012 của Bộ Tài chính quy định KSC thường xuyên Ngân sách bao gồm những hoạt động sau: Kiểm soát khoản chi có trong dự toán NSNN hay không; Kiểm soát tính hợp pháp hợp lệ của hồ sơ, chứng từ và Kiểm soát khoản chi đúng chế độ.
Nội dung kiểm soát khoản chi có trong dự toán NSNN. Các hồ sơ, chứng từ khi đơn vị sử dụng NSNN đưa đến cơ quan KBNN nơi giao dịch phải đảm bảo có trong dự toán NSNN được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các khoản chi nêu trong dự toán phải chi tiết theo từng Mã nguồn NSNN (nguồn tự chủ hoặc không tự chủ), Mã ngành kinh tế, Mã nội dung kinh tế để cơ quan Tài chính có cơ sở nhập dự toán ngân sách của đơn vị, từ đó cơ quan Kho bạc căn cứ vào dự toán nhập của cơ quan Tài chính để chi cho đơn vị theo đúng tính chất nguồn kinh phí đã được phê duyệt. Nội dung kiểm soát tính hợp pháp hợp lệ của hồ sơ, chứng từ.
Thực hiện nội dung kiểm soát tính hợp pháp hợp lệ của hồ sơ, chứng từ bao gồm: Nội dung kiểm soát mẫu dấu của đơn vị sử dụng NSNN; Nội dung kiểm soát chữ ký của đơn vị sử dụng NSNN và Nội dung kiểm soát thủ tục hồ sơ, chứng từ. Nội dung kiểm soát mẫu dấu của đơn vị sử dụng NSNN. Mẫu dấu của đơn vị sử dụng NSNN được sử dụng để giao dịch với cơ quan KBNN là dấu đã đăng ký tại cơ quan công an, được đóng thành hai (02) dấu và phải rõ nét. Dấu của đơn vị, tổ chức trên chứng từ phải phù hợp với mẫu dấu còn giá trị đã đăng ký tại cơ quan KBNN.
Chung Thị Hải-Luận văn thạc sỹ 4 PT và tìm GP nâng cao HQ hoạt động KSC TX NSNN tại KBNN Bà Rịa-Vũng Tàu Đối với các đơn vị thuộc khối an ninh, quốc phòng: mẫu dấu phải được đăng ký với cơ quan bảo mật trong ngành (Quốc phòng, An ninh). Đối với Ban quản lý dự án có tư cách pháp nhân không đầy đủ (không có con dấu riêng): được sử dụng con dấu của Chủ đầu tư quy định trong Quyết định thành lập Ban quản lý dự án và phải đăng ký mẫu dấu của Chủ đầu tư với cơ quan KBNN nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch. Đối với cá nhân: không phải đăng ký mẫu dấu. Cán bộ giao dịch của cơ quan Kho bạc khi nhận hồ sơ, chứng từ của đơn vị, kiểm tra “mẫu dấu” của đơn vị kế toán trên chứng từ kế toán như sau: Dấu đóng phải đúng vị trí, rõ nét, không mờ, không nhoè, không làm biến dạng chữ ký trên chứng từ và phải đóng dấu trên từng liên chứng từ; Không được đóng dấu lên chứng từ chưa ghi nội dung hoặc nội dung ghi chưa đầy đủ, kể cả trong trường hợp đã có chữ ký; Dấu được đóng vào vị trí chữ ký chức danh cao nhất trên chứng từ ở vị trí 1/3 chữ ký về phía bên phải.
Nếu đơn vị vi phạm một trong các nội dung về kiểm soát mẫu dấu trên thì cán bộ giao dịch của Kho bạc được quyền trả lại hồ sơ, chứng từ cho đơn vị để làm lại. Trường hợp đơn vị không có con dấu thì giao dịch như đối với cá nhân. Nội dung kiểm soát chữ ký của đơn vị sử dụng NSNN. Cán bộ giao dịch khi nhận hồ sơ, chứng từ của đơn vị, kiểm tra “chữ ký” của đơn vị kế toán trên chứng từ kế toán như sau: Mọi chứng từ kế toán phải có đủ chữ ký theo chức danh quy định trên chứng từ mới có giá trị thực hiện.