Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1. Cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo 1. Chi thường xuyên NSNN cho giáo dục và đào tạo 1. Khái niệm về chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo Khái quát về NSNN: NSNN phản ánh hoạt động của Nhà nước về phương diện tài chính.
Lúc đầu, NSNN đơn thuần chỉ phản ánh các khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước. Càng về sau NSNN càng có vai trò quan trọng trong thực hiện các hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước. Thực tế cho thấy, vai trò của ngân sách nhà nước luôn gắn liền với vai trò của Nhà nước theo từng giai đoạn lịch sử nhất định. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, NSNN còn là công cụ để Nhà nước quản lý vĩ mô và tham gia tích cực vào các quá trình quốc tế.
Ngày nay, khái niệm NSNN đã được hiểu tương đối thống nhất ở nhiều quốc gia. Theo Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước Việt Nam [1]: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Khái niệm về chi thường xuyên NSNN: theo Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước Việt Nam [1] “Chi thường xuyên là nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hỗ trợ hoạt động của các tổ chức khác và thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh”. 7 Khái niệm về chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo: Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo là khoản chi thuộc nhóm chi hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực Tài chính hành chính sự nghiệp, thuộc phạm vi chi thường xuyên của NSNN.
Phân loại chi thường xuyên NSNN Trong công tác quản lý chi người ta có thể lựa chọn một số cách phân loại các hình thức chi để tập hợp chúng vào nội dung chi thường xuyên nhanh và thống nhất. - Theo từng lĩnh vực chi: Theo tiêu thức này, nội dung chi thường xuyên của NSNN bao gồm: Chi cho các hoạt động sự nghiệp thuộc lĩnh vực Tài chính hành chính sự nghiệp như: các đơn vị sự nghiệp y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, văn hóa, thể thao, phát thanh truyền hình, đảm bảo xã hội; Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của nhà nước như: chi các đơn vị sự nghiệp nông, lâm, ngư, nghiệp, giao thông, thủy lợi, kiến thiết thị chính và kinh tế khác; Chi cho các hoạt động quản lý nhà nước như: Quốc hội, Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân dân và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các cấp; Chi cho các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức khác được cấp kinh phí từ NSNN như: Đảng cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân các cấp; Chi cho quốc phòng - an ninh và trật tự, an toàn xã hội; Chi khác. - Theo nội dung kinh tế của các khoản chi thường xuyên: theo tiêu thức này, thì nội dung chi thường xuyên của NSNN bao gồm: + Các khoản chi cho con người thuộc khu vực hành chính, sự nghiệp. Đây được coi là nội dung chi quan trọng đầu tiên để có thể có được một trong ba yếu tố đầu vào của bất kì một cơ quan, tổ chức nào muốn tồn tại và hoạt động.
Thuộc các khoản chi cho con người của khu vực hành chính - sự nghiệp, 8 bao gồm: Tiền lương, tiền công, phụ cấp, phúc lợi tập thể, tiền thưởng, các khoản đóng góp theo tiền lương và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo chế độ nhà nước quy định đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. + Các khoản chi về nghiệp vụ chuyên môn: Được tính vào chi nghiệp vụ chuyên môn của các đơn vị hành chính - sự nghiệp bao gồm nhiều nội dung chi khác nhau. Song có thể nhóm các nội dung chi của các nhóm mục này theo 2 tiêu chí gắn liền với mục đích của các khoản chi: (i) chi nhằm để đảm bảo cho hoạt động chung của mỗi đơn vị; (ii) và các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn đặc thù. + Các khoản chi mua sắm, sửa chữa: Đây là khoản chi nhằm bảo đảm duy trì hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp trong hệ thống chính trị của Nhà nước.
Trong qua trình hoạt động, các đơn vị hành chính sự nghiệp còn phát sinh các nhu cầu chi về mua sắm công cụ, dụng cụ, hay sửa chữa các tài sản đang trong quá trình sử dụng, nhằm phục vụ kịp thời cho nhu cầu hoạt động và nâng cao hiệu suất sử dụng của các tài sản đó. Tuy nhiên, mức chi cho mua sắm, sửa chữa của mỗi đơn vị lại phụ thuộc vào: (i) tình trạng tài sản của đơn vị thuộc diện được sử dụng vốn NSNN; (ii) khả năng nguồn vốn NSNN có thể dành cho nhu cầu chi này ở mức độ nào? + Các khoản chi khác: Thuộc phạm vi các khoản chi khác nằm trong cơ cấu chi thường xuyên của NSNN, có thể nói một cách khái quát nhất là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn nhưng chưa được đề cập tới ở 3 nhóm mục trên. Đặc điểm chi thường xuyên của ngân sách nhà nước Thứ nhất: đại bộ phận các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định khá rõ nét. Những chức năng vốn có của Nhà nước như: Bạo lực, trấn áp và tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế, xã hội đều đòi hỏi phải được thực thi cho dù có sự thay đổi về thể chế chính trị.
Để đảm bảo cho Nhà nước có thể thực hiện được các chức năng đó, tất yếu phải cung cấp nguồn vốn từ NSNN cho 9 nó. Mặt khác, tính ổn định của chi thường xuyên còn bắt nguồn từ tính ổn định trong từng hoạt động cụ thể mà mỗi bộ phận cụ thể thuộc guồng máy Nhà nước phải thực hiện. Ví dụ: Cho dù nền kinh tế quốc dân đang trong thời kì hưng thịnh, hay suy thoái thì những công việc thuộc về quản lý nhà nước tại mỗi cơ quan chính quyền vẫn cứ phải duy trì đều đặn và đầy đủ; có khác chăng là ở thứ tự ưu tiên trong giải quyết các công việc mà thôi. Thứ hai: xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên của NSNN có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội.
Nếu chi đầu tư phát triển nhằm tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế trong tương lai, thì chi thường xuyên lại chủ yếu đáp ứng cho các nhu cầu thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về quản lý kinh tế, quản lý xã hội ngay trong năm ngân sách hiện tại. Khi nghiên cứu cơ cấu chi NSNN theo mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp phát, người ta thường phân loại các khoản chi thành hai nhóm: Chi tích lũy và chi tiêu dùng. Theo tiêu thức này thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên được xếp vào chi tiêu dùng (tiêu dùng chung cho toàn xã hội). Bởi lẽ, ở trong từng niên độ ngân sách đó các khoản chi thường xuyên chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành chính nhà nước; về quốc phòng, an ninh; về các hoạt động sự nghiệp; các hoạt động xã hội khác do Nhà nước tổ chức.
Kết quả các hoạt động trên hầu như không tạo ra của cải vật chất hoặc gắn trực tiếp với việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội ở mỗi năm đó. Song điều đó cũng không làm mất đi ý nghĩa chiến lược của một số khoản chi thường xuyên. Và theo đó, người ta có thể coi nó như là những khoản chi có tính chất tích lũy đặc biệt. Ví dụ: Ngày nay người ta cho rằng các khoản chi cho giáo dục đào tạo, cho Khoa học - Công nghệ là những khoản chi tích lũy.
Thứ ba: phạm vi, mức độ chi thường xuyên của NSNN gắn chặt với cơ cấu tổ chức của bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc 10 cung ứng các hàng hóa công cộng. Với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, nên tất yếu quá trình phân phối và sử dụng vốn NSNN luôn phải hướng vào việc đảm bảo sự hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước đó. Nếu một khi bộ máy quản lý nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chi thường xuyên cho nó được giảm bớt và ngược lại. Hoặc quyết định của Nhà nước trong việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng hàng hóa công cộng cũng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên của NSNN.
Ví dụ: Giáo dục là hàng hóa công cộng. Trong cơ chế quản lý tập trung, bao cấp Nhà nước quyết định cung cấp hàng hóa này miễn phí thì tất yếu phạm vi và mức độ chi NSNN cho Giáo dục phải rộng và lớn. Ngược lại, trong cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thì hoạt động giáo dục có sự chăm lo của cả Nhà nước và nhân dân. Nhờ đó Nhà nước có thể thu hẹp phạm vi chi cho lĩnh vực này.
Nội dung chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo Nội dung chi thường xuyên NSNN cho giáo dục đào tạo gắn liền với cơ cấu, nhiệm vụ của ngành trong mỗi giai đoạn lịch sử và được xem xét ở các giác độ khác nhau. Căn cứ vào cơ cấu tổ chức của ngành giáo dục đào tạo có thể hiện nội dung chi NSNN cho giáo dục đào tạo gồm: - Chi ngân sách cho hệ thống các trường học có: + Chi ngân sách cho hệ thống các trường mầm non, các trường phổ thông. + Chi ngân sách cho các trường đại học, các học viện, các trường cao đẳng, các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.