Chương 1 CHAT LƯỢNG DỰ ÁN DAU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI MOT SO KHÍA CANH CHUNG 1. Chất lượng dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài: các tiêu chí đánh giá và yếu tố ảnh hưởng. Các tiêu chí đánh giá chất lượng. - Đầu tư trực tiến nước ngoài.
Theo định nghĩa của Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF): Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một sự đầu tư được thực hiện để thu được lợi nhuận lâu dài dựa trên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một nền kinh tế khác nền kinh tế của nhà đầu tư, trong đó nhà đầu tư nước ngoài có một tiếng nói trọng lượng trong hoạt động quan tri doanh nghiệp. Báo cáo hoạt động đầu tư thế giới của Liên hợp quốc (United Nation) năm 1999 định nghĩa: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một sự đầu tư bao gồm moi quan hệ dai hạn và phản ánh lợi tức lâu dài và sự kiểm soát của một chủ thê trong một nền kinh tế. WTO đã đưa ra khái niệm như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra khi một nhà đầu tư từ một nước "nước chủ đầu tư" có được một tài sản ở một nước khác (nước tiếp nhận đầu tư) cùng với quyền quan lý tài sản đó. Phuong diện quan lý là thứ dé phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn các trường hợp, nhà đầu tư và tài sản họ quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong trường hợp nhà đầu tư thường được gọi là "công ty mẹ" và các tai sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". Theo OECD: Đầu tư trực tiếp có nghĩa là hoạt động đầu tư quốc tế của một thực thể có danh tiếng (nhà đầu tư trực tiếp) trong một nền kinh tế nhằm mục đích tạo ra lợi ích lâu dài dưới hình thức công ty. Lợi ích lâu dài có nghĩa ở đó bao gồm mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư và công ty, và nhà nhà đầu tư có ảnh hưởng lớn tới việc quản lý công ty được đầu tư trực tiếp.
Theo Luật đầu tư 2014 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn và tham gia hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Nhìn chung, có thé thấy, các cách hiểu trên về đầu tư trực tiếp nước ngoài cơ bản là thống nhất với nhau về mối quan hệ, vai trò và lợi ích của nhà dau tư, đó là: Đấu tu trực tiếp nước ngoài là việc nhà dau tư nước ngoài bỏ von và các tài sản hợp pháp khác vào một quốc gia dé tiễn hành hoạt động đâu tu và tham gia kiểm soát hoạt động dau tư đó. - Chất lượng dự an đầu tư. Với quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài như đã phân tích ở trên, khái niệm “chất lượng dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài” trong luận văn này được hiểu là “Sw phản ánh tổng thé mức độ đóng góp của dự án dau tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển bên vững ở nước nhận dau tư trong điều kiện và hoàn cảnh nhất định”.
Tw đó, cũng có thê hiểu dự án FDI chất lượng là dự án FDI có đóng góp “tích cực” cho sự “phát triển bền vững” của nước tiếp nhận đầu tư theo hướng hiện đại, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước trong hoàn cảnh va mục tiêu cụ thé. Cụm từ “tích cực” thé hiện lợi ích ròng của FDI đối với nước nhận đầu tư là con số dương. Thuật ngữ “Phát triển bền vững” là bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và môi trường. Còn “Hoàn cảnh và mục tiêu cụ thé” ở đây có nghĩa mỗi giai đoạn khác nhau, đất nước có mục tiêu phát triển khác nhau phù hợp với giai đoạn đó.
Vì vậy đòi hỏi dự án FDI phải phù hợp với mục tiêu đó. Vì thế, dù FDI có hiệu quả cao (hiệu suất vốn đầu tư cao) nhưng không phủ hợp với mục tiêu phát triển này thì cũng không được coi là có chất lượng cao. Các tiêu chí đánh giả. Chất lượng một dự an đầu tư thể hiện ở nhiều khía cạnh.
Ở đây chúng ta chỉ xem chất lượng dự án FDI từ góc độ thỏa mãn lợi ích của nước nhận đầu tư. Theo nghĩa đó, một dự án FDI có chất lượng cao phải có tác động và đóng góp tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước nhận đầu tư. Chất lượng của dự án FDI có thé được đánh giá qua nhiều tiêu chí. Sau đây là một số tiêu chí chính: - Hiệu quả sử dụng vốn và đóng góp của dự án FDI đổi với tăng trưởng kinh tế.
Dưới góc độ kinh tế học, hiệu quả sử dụng vốn là việc xem xét kết quả mà một đồng vốn FDI tạo ra như thế nào hay tỷ suất sinh lời của đồng vốn cao hay thấp, và chỉ số này thể hiện như thế nào khi so sánh với các khu vực kinh tế khác. Thêm nữa, đóng góp của FDI trong tổng vốn đầu tư xã hội có tương xứng với đóng góp vào GDP của nền kinh tế không, từ đó đánh giá hoạt động của khu vực FDI với các khu vực kinh tế khác. Ngoài ra, FDI giúp cho nền kinh tế tăng trưởng cao hay thấp và quan trọng nữa có cân đối hay không. FDI có khuyến khích sự gắn kết giữa các khu vực, giữa các vùng trong cả nước.
Điều này giúp cho phát triển cân đối giữa các vùng, giảm bat bình đăng, chính là góp phần phát triển bền vững của đất nước. Hơn nữa, cần phải xem sự tác động của FDI đến hướng chuyền dịch cơ cấu, đến việc nâng cao năng lực sản xuất thực của nền kinh tế. Nó có hướng nền kinh tế tăng được ty trọng các ngành có giá tri gia tang cao, các ngành công nghiệp hiện đại, công nghệ cao và thân thiện với môi trường hay không. FDI đã tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc đóng thuế và các lệ phí.
Con số này có thể so sánh với các khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế ngoài nha nước đê thay được vi trí của khu vực FDI so với các khu vực khác. 10 - _ Nâng cao năng lực, trình độ công nghệ cho nước nhận dau tư. Tiêu chí này xem xét đến tỷ lệ dự án có công nghệ cao, hiện đại, tiết kiệm năng lượng, sé lượng các trung tam R&D; dự an đầu tư vào lĩnh vực sản xuất mới, giá tri gia tang cao; trình độ công nghệ thực sự được chuyên vào nước nhận đầu tư. Ở đây, tudi đời công nghệ sẽ được lay làm căn cứ đánh gia.
Một vấn đề khác là FDI có nâng cao trình độ quản lý cho cán bộ nước tiếp nhận đầu tư không. Doanh nghiệp có đảo tạo công nhân, đào tạo cán bộ quản lý không. - Việc làm, thu nhập và chất lượng nguôn nhân lực. Tiêu chí này đề cập đến trách nhiệm của doanh nghiệp FDI đối với sức khỏe người lao động, môi trường làm việc và các chế độ đối với người lao động.
FDI tạo ra nhiều việc làm, song quan trọng hơn là những việc làm như thế nào, đòi hỏi chuyên môn cao hay thấp, điều kiện làm việc, tiền lương va các van dé an sinh xã hội khác mà người lao động có thé được hưởng. Ngoài ra, cũng can tính đến yếu tô FDI có thể làm gia tăng tình trạng thất nghiệp ở các địa phương. - _ Mức độ liên kết, ảnh hưởng và lan tỏa trong nên kinh tế. Tiêu chí này đánh giá sự gắn kết giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp ở nước tiếp nhận FDI; sự phát triển ngành công nghiệp phụ trợ nội địa trong mối quan hệ cạnh tranh và hợp tác với các doanh nghiệp FDI.
- Tac động môi trường. Không ít dự án FDI đã tác động tiêu cực đến môi trường do đầu tư vào khai thác gây cạn kiệt tài nguyên. Những dự án đầu tư có công nghệ thấp, tiêu hao nhiên liệu nhiều cũng gây ảnh hưởng đến môi trường. Trong khi đó, nhiều quốc gia có xu hướng thu hút các dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực năng lượng tái sinh, những ngành tiết kiệm năng lượng được đánh giá rất cao.
Các yếu tổ ảnh hưởng. Vốn FDI vừa có tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực. FDI được nhìn nhận đem lại tác động tích cực hay tiêu cực không chỉ phụ thuộc vào chính dòng vốn mà còn phụ thuộc vào cách nước tiếp nhận đầu tư quản lý và sử dụng dòng vốn đó như thế nào. Vấn đề đặt ra là, nước nhận đầu tư phải tìm mọi cách dé tối đa mặt tích cực và tối thiểu mặt tiêu cực của dòng vốn nay dé phục vu cho mục tiêu phát triển của đất nước.
Vì vậy, có thể nhóm lại một số yếu tô ảnh hưởng đến chất lượng dự án FDI như sau: 1. Các yếu tố bắt nguồn từ nhà dau tư. - Mục tiêu của các nhà dau tu. Chat lượng của dự án FDI phụ thuộc vào chiến lược đầu tư của nhà đầu tư.
Đầu tư để khai thác tài nguyên, phát triển thị trường hay phát triển sản phẩm đều có tác động nhất định đến chat lượng đầu tư ở nước sở tại. Nếu nhà đầu tư tập trung khai thác lao động rẻ của nước nhận đầu tư thì dự án đó ngoài khả năng giải quyết được những việc làm giản đơn khó có đóng góp về mặt tiến bộ công nghệ và giá trị gia tăng lớn. - Tiềm lực của nhà dau tư nước ngoài. Nhà đầu tư có tiềm lực sẽ giúp cho quá trình triển khai dự án thuận lợi hơn, tránh việc kéo dài thời gian lãng phí.
Tiềm lực của nhà đầu tư còn thể hiện ở khả năng công nghệ và trình độ quản lý. Những nhà đầu tư có vốn lớn và công nghệ tiên tiến sẽ khác các nhà đầu tư nhỏ lẻ cả về chiến lược đầu tư, ngành nghé sản xuất kinh doanh. Những nhà đầu tư lớn họ rất chú trọng đến uy tín và thương hiệu của họ. Chính vì vậy, khi tiễn hành hoạt động đầu tư, họ khảo sát rất kỹ nơi nhận đầu tư.