Chương 1- Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng dạy học ở trường THPT theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể. Chương 2- Thực trạng quản lý chất lượng dạy học ở trường THPT. Chương 3- Biện pháp quản lý chất lượng dạy học ở trường THPT theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG TỔNG THỂ 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Dạy học là một hiện tượng xã hội xuất hiện sớm trong lịch sử loài người. Dạy học nhằm truyền thụ những kinh nghiệm xã hội (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo,.) của thế hệ trước cho thế hệ sau. Tri thức nhân loại luôn luôn phát triển và mỗi ngày một hoàn thiện hơn. Đặc biệt, trong thế kỷ 21, với sự phát triển như vũ bão của khoa học- công nghệ nhiều tri thức mới đã ra đời, dẫn đến ý tưởng phải hình thành nhiều nội dung học mới trong giáo dục trung học phổ thông.
Tình hình nghiên cứu về QLCL trong giáo dục-dạy học ở nƣớc ngoài 1. Vài nét về phát triển quản lý chất lượng từ công nghiệp đến giáo dục Trào lưu chất lượng chỉ thực sự bắt đầu vào năm 1900, khi Frederick W.Taylor, thường được gọi là “cha đẻ của quản trị theo khoa học” đã đưa ra việc thực hiện phân chia chức năng hoạch định và chức năng thực thi kế hoạch trong quá trình sản xuất. Nhà quản trị và kỹ sư thực hiện việc hoạch định và nhân viên thực thi công việc. Bằng cách chia công việc thành những phần chuyên biệt, mỗi công nhân chỉ tập trung vào phần việc của mình, phần theo dõi chất lượng sản phẩm được giao cho bộ phận “kiểm soát chất lượng”.
Bộ phận này thực hiện chức năng kiểm tra chất lượng. Nội dung chính của quản lý chất lượng thời kỳ này là phân loại sản phẩm tốt, xấu, loại bỏ sản phẩm sai hỏng. Chất lượng được coi là trách nhiệm của bộ phận kiểm soát chất lượng và không liên quan đến các bộ phận khác, kể cả nhà quản trị cấp cao.7-8] Vào đầu những năm 1900, Bell System đã đưa ra một phương pháp quản lý chất lượng mới, đó là hệ thống “đảm bảo chất lượng”. Họ đã tạo ra một bộ phận kiểm soát tại công ty Western Electric để hỗ trợ cho các công ty con khác của Bell.
Trong những năm 1920, một nhóm của tập đoàn Western Electric, được lãnh đạo bởi Walter Shewhart, đã hình thành ra hệ thống kiểm soát chất lượng bằng những công cụ thống kê (SQC- Statistical Quality Control), đây là đặc trưng cơ bản của hệ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống đảm bảo chất lượng. SQC tập trung vào việc nhận diện và giới hạn những nguyên nhân của sai hỏng. Walter Shewhart đã thực hiện các biểu đồ kiểm soát và chứng minh rằng những vấn đề biến đổi trong quá trình sản xuất dẫn đến biến động trong sản phẩm. Những người tham gia nhóm, Walter Shewhart, Harold Dodge, George Edwards, W.Edwards Deming và một số người khác đã không chỉ thiết đặt hệ thống đảm bảo chất lượng mà còn phát triển nhiều kỹ thuật và phương pháp thống kê hữu dụng khác.
Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã đẩy mạnh việc áp dụng các phiếu kiểm tra trong những ngành công nghiệp khác nhau của Mỹ. Việc áp dụng kiểm soát chất lượng bằng thống kê đã giúp thỏa mãn những yêu cầu cao về số lượng, chất lượng sản phẩm cung cấp cho quân đội với chi phí sản xuất thấp. Sau chiến tranh, trong suốt những năm 1940-1950, sản phẩm của Mỹ luôn chiếm vị trí số một, khi mà “Made in USA” được coi là một vị trí kiêu ngạo trong ngành công nghiệp. Khái niệm quản lý chất lượng tổng thể (TQM) được phát triển từ những năm 1940 bởi các nhà quản lý người Mỹ như W.
Trọng tâm được mở rộng từ chất lượng sản phẩm sang chất lượng của tất cả các vấn đề trong phạm vi một tổ chức được coi như sự khởi đầu của TQM. Tháng 7/1950, Liên hiệp các nhà khoa học và kỹ sư Nhật- JUSE (Union of Japaness Scientists and Engineers) mời tiến sĩ W. Deming giới thiệu về những kỹ thuật kiểm soát chất lượng bằng thống kê cho người Nhật. Chính Deming đưa vào Nhật “Chu trình Deming”, một trong những công cụ quan trọng cần thiết cho công cuộc cải tiến liên tục ở Nhật.50] Tháng 7/1954, tiến sĩ J.
Juran được mời sang Nhật tham dự một số hội thảo về quản lý chất lượng do JUSE tổ chức, ông đã trình bày những ý tưởng cơ bản của kiểm soát chất lượng. Đây là lần đầu tiên vấn đề chất lượng được đề cập từ góc độ quản lý toàn diện. Kiểm soát chất lượng không còn bị thu hẹp trong khu vực sản xuất mà đã mở rộng đến hầu hết các khu vực hoạt động của tổ chức. Các ý tưởng của Deming và Juran đề xướng đã được các nhà công nghiệp và quản lý Nhật Bản mở rộng và phát triển thành hệ thống kiểm soát chất lượng tổng thể (Total Quality Control- TQC), người đi tiên phong trong lĩnh vực chất lượng ở Nhật Bản là Kauro Ishikawa và Taguchi.
Người Nhật đã tích hợp chất lượng vào tổ 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức của họ và phát triển một văn hóa cải tiến liên tục (người Nhật gọi là kaizen), cải tiến chất lượng tại Nhật đã diễn ra một cách vững chắc. Trong suốt những năm 1970 và đầu những năm 1980, nhiều nhà kinh doanh Mỹ đã mất thị phần từ những đối thủ toàn cầu, nhất là Nhật Bản. Năm 1987, Business Week đã đặt ra một lời cảnh báo nghiêm khắc cho những nhà quản trị Mỹ: “ Chất lượng, Nhớ không? ”. Đến cuối những năm 1970, tác phẩm của Deming được xuất bản tại Mỹ, và sau đó các nhà nghiên cứu khác như Crosby, Peter và Waterman trong cuốn “Tìm kiếm sự xuất sắc” (Search for Excellence, 1982) sau khi phân tích nhiều giả thuyết khác nhau đã đi tới một kết luận cơ bản về thành công của người Nhật là thoả mãn nhu cầu của khách hàng (Customer Satisfaction is Everything).50] Kết luận này có tác động rất lớn tới nước Anh vào đầu những năm 1980 và thúc đẩy sự ra đời của nhiều sáng kiến có giá trị, như chất lượng quốc gia, thành lập hội chất lượng Anh (1981), sách trắng của Chính phủ Anh “Chuẩn, chất lượng và sự cạnh tranh quốc tế” (1982).
Khó có thể đánh giá hết tác động của phong trào chất lượng tới công nghiệp, thương mại, dịch vụ của Anh. Mãi cho đến những năm 1980, Mỹ đã thức tỉnh vấn đề chất lượng tại hầu hết các công ty lớn trong một chiến dịch cải tiến chất lượng. Năm 1984, Chính phủ Mỹ đã chọn tháng 10 làm tháng chất lượng quốc gia. Năm 1987, 34 năm sau khi Nhật thiết lập giải thưởng Deming, quốc hội Mỹ thiết lập giải thưởng Malcolm Baldrige National Quality Award, tạo ra một sự hấp dẫn về chất lượng cho các đơn vị sản xuất- kinh doanh Mỹ.
Sau thành công tại những công ty sản xuất chế tạo, vấn đề chất lượng được chuyển sang lĩnh vực dịch vụ. Trong suốt những năm 1990, lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, hành chính và giáo dục bắt đầu quan tâm đến chất lượng. Năm 1991, một tổ chức liên kết giữa những hội nghề, hội kinh doanh và các trường đại học được thành lập với tên gọi “The National Education Quality Initiative” nhằm cải tiến các chương trình giáo dục thông qua những nguyên lý của chất lượng. Nhiều hệ thống trường học địa phương, trường đại học cũng được xem xét để xúc tiến thực hiện chất lượng.
Ở Anh, đến năm 1991, giáo dục phổ thông và cả giáo dục đại học, giáo dục thường xuyên cũng quan tâm tới hệ thống quản lý chất lượng. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số nghiên cứu ở nước ngoài về TQM trong giáo dục- dạy học Việc có thể áp dụng TQM vào tổ chức giáo dục được đưa ra từ sự chú ý của nhiều tác giả như DeCosmo et al. Họ chỉ ra rằng các tổ chức giáo dục đã chuyển hướng sang TQM vì rất nhiều lý do giống như các đơn vị thương mại đã xây dựng các chương trình chất lượng (Kwan, 1996): do sự phát triển mạnh về số lượng người học, do thiếu phong cách lãnh đạo và quản lý phù hợp, do yêu cầu ngày càng cao về trách nhiệm của nhà trường đối với xã hội và sự thay đổi các quan điểm đối với các nhà trường.
Sự cấp thiết áp dụng TQM trong giáo dục cũng do sự thúc ép về nguồn lực và sự cấp bách gia tăng (DeCosmo et al.38-42] Trong các công trình nghiên cứu về TQM trong giáo dục đã xuất bản trên thế giới, có thể kể đến một số công trình gần đây như: “Total Quality Management in Education” của tác giả Sallis Edward (1993); “Total Quality Management” của tác giả John S. Oakland (1993); “100 Methods for Total Quality Management” của tác giả Gopal K.Kanji & Mike Asher (1993); “Leading for Quality” của tác giả Silva Roncelli-Vaupot (2000);”Total Quality Management in Education” của tác giả Marmar Mukhopadhyay (2005). Các công trình này đều khẳng định, TQM không chỉ áp dụng trong lĩnh vực sản xuất mà còn áp dụng cho các lĩnh vực dịch vụ như giáo dục. Trong đó, Silva Roncelli-Vaupot (2000) [94] đã quan niệm hệ thống QLCL giáo dục (Quality management systems) là hệ thống nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục thông qua việc sử dụng những quá trình thích hợp để quản lý và giám sát những người thực hiện (CBQL, GV, nhân viên và cả người học).
Mục đích của nó là để hòa nhập quá trình đào tạo với cơ chế thích hợp để đảm bảo chất lượng trong từng công đoạn của quá trình đào tạo. Quá trình đào tạo được lập kế hoạch cụ thể, sản phẩm đào tạo thiết kế trước, chiến lược nhằm đạt được mục tiêu đề ra đã được định sẵn, hệ thống đào tạo được định kỳ rà soát, kiểm tra. Oakland (1993) [88] là giáo sư về QLCL của Trường Đại học Bradford vương quốc Anh, được coi là bậc thầy về QLCL ở Anh, trong tác phẩm về TQM của mình đã trình bày các quan điểm tiên tiến và đề cập chất lượng là do khách hàng xác định, muốn đạt được chất lượng thì phải tác động toàn bộ vào tất cả các khâu liên quan đến sản phẩm. Các công đoạn của TQM được tóm gọn trong các từ: Am hiểu, Cam kết, Tổ chức, Đo lường, Hoạch định, Thiết kế, Hệ thống, Năng lực, Kiểm soát, Hợp tác nhóm, Đào tạo và Thực thi.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.