Chương 1 LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Những nghiên cứu về giáo viên CNL đã có tập trung vào các vấn đề như: vị trí, vai trò của giáo viên CNL; chức năng, nhiệm vụ của giáo viên CNL trong trường phổ thông; những hoạt động cụ thể của giáo viên CNL. Về vị trí, vai trò của giáo viên CNL: Người giáo viên CNL giữ một vị trí quan trọng và có ý nghĩa trong nhà trường phổ thông.
Ở Nhật, giáo viên CNL không chỉ cần thiết trong phạm vi nhà trường và học sinh, mà còn được cả xã hội coi trọng, và thậm chí được xem như những người cha, mẹ thứ hai đối với HS [dẫn theo 37]. Ngoài việc phụ trách một môn học nhất định và thực hiện các nhiệm vụ thông thường khác của một giáo viên môn học, giáo viên CNL còn phải đảm nhận rất nhiều vai trò đa dạng và phức tạp khác như: người dạy dỗ, chăm sóc, người tham vấn, nhà trị liệu tâm lý, và người bạn tin cậy của HS. Nghiên cứu của Qi Shi và Leuwerke (2010) còn chỉ ra rằng, ở Trung Quốc, đối với những trường học không có cán bộ tư vấn hoặc nhà tâm lý học đường, giáo viên CNL thực hiện gần như toàn bộ các chức năng, nhiệm vụ của một cán bộ tư vấn cho HS trong trường [dẫn theo 37]. Ở các nước có hệ thống giáo dục phát triển như Mỹ và Úc, mặc dù trong mỗi trường phổ thông đều có các vị trí như cán bộ tư vấn, ban trợ giúp HS, cán bộ xã hội, giáo viên CNL vẫn có vai trò to lớn trong việc làm cầu nối đầu tiên và quan trọng giữa HS, gia đình, các giáo viên và Ban giám hiệu nhà trường [dẫn theo 37].
Do tính phân cấp cao trong giáo dục, vị trí và vai trò cụ thể của các giáo viên CNL ở Mỹ, Úc tùy thuộc vào chiến lược, chính sách giáo dục của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com từng bang, từng trường. Song về cơ bản, giáo viên CNL vẫn là người hướng dẫn, hỗ trợ mọi hoạt động chung của HS, giám sát và khuyến khích sự tham gia của HS trong các hoạt động của nhà trường. Về những hoạt động cụ thể của giáo viên CNL: Các nghiên cứu đã chỉ ra những hoạt động của giáo viên CNL bao gồm: Các hoạt động chủ nhiệm thường xuyên hàng ngày/tuần; hoạt động của giáo viên CNL trong tiết sinh hoạt chủ nhiệm hàng ngày; các hoạt đông về quản lý, giảm sát lớp học; các hoạt dộng liên quan đến việc hướng dẫn, hỗ trợ học tập; các hoạt động trợ giúp cá nhân HS về tâm lý, tình cảm; các hoạt động liên quan đến mối quan hệ với CMHS; các hoạt động xây dựng tỉnh thần tập thể; các hoạt động phối hợp với cả nhân, đơn vị khác trong trường. Như vậy, việc tìm hiểu về người giáo viên CNL và công tác chủ nhiệm của họ ở một số nước và qua một số công trình nghiên cứu cho thấy: dù ở đâu vai trò và nhiệm vụ của người giáo viên CNL cũng rất quan trọng, có ảnh hưởng to lớn đến HS cũng như chất lượng giáo dục của nhà trường.
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hình thành, phát triển năng lực sư phạm của các nhà khoa học trên thế giới. Các công trình nghiên cứu đã có chủ yếu tập trung vào việc xác định năng lực, phẩm chất của người giáo viên, làm cơ sở cho quá trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. Trong tác phẩm “Những phẩm chất tâm lí của người giáo viên”, Ph.Gônôbôlin (1976) cho rằng: “Năng lực sư phạm không phải là loại năng lực chung, không nhất thiết là năng lực chuyên biệt, chuyên môn. Năng lực sư phạm là một loại năng khiếu đặc biệt bao gồm một số yếu tố của cả hai loại năng lực trên” [23, tr.
Theo tác giả, người giáo viên có các NL sau: NL hiểu học sinh, NL truyền đạt tài liệu học tập, NL thu hút học sinh, NL thuyết phục mọi người, NL tổ chức, NL xử lý tình huống sư phạm, NL dự báo kết quả, NL sáng tạo trong công tác dạy học, NL điều khiển quá trình hoạt động.V Kuzơmina (1982) cho rằng, NLSP của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến quá Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com trình giáo dục hình thành và phát triển NL của HS. Trên cơ sở nghiên cứu các thành tố cấu trúc và chức năng, cũng như các mối quan hệ chi phối lẫn nhau, tác giả đã phân thành bốn nhóm NL cơ bản đó là: NL truyền đạt, NL tổ chức, NL nhận thức và các NL sáng tạo [dẫn theo 32].L Abdulgalimov NL của người giáo viên bao gồm: NL xã hội, NLSP và NL chuyên môn. Trong đó, NL xã hội đóng vai trò là cơ sở cho NLSP và NL chuyên môn. Tác giả cho rằng, ở trình độ tối ưu, ba loại NL này tạo thành một tam giác và nếu trạng thái cân bằng này bị phá vỡ, thì cấu trúc NL của người giáo viên sẽ bị lệch đi theo các hướng khác nhau [dẫn theo 37].
Theo Bernd Meier (2005), mô hình cấu trúc NL gồm 4 thành phần: NL chuyên môn, NL phương pháp, NL xã hội, NL tự hoàn thiện. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra mô hình NLSP của người giáo viên bao gồm: NL dạy học, NL giáo dục, NL chẩn đoán, đánh giá, NL tư vấn, NL đổi mới và phát triển nghề nghiệp [4]. Tuy nhiên, vẫn còn rất ít những công trình nghiên cứu về năng lực giáo dục của giáo viên CNL và bồi dưỡng, quản lí bồi dưỡng năng lực giáo dục cho giáo viên CNL ở trường phổ thông. Ở Việt Nam Nghiên cứu về người giáo viên CNL ở nhà trường phổ thông tuy không phải là mới, song nếu xem xét trên những yêu cầu của sự phát triển xã hội thì vấn đề người giáo viên CNL cần phải có cách nhìn nhận mới cho phù hợp hơn, đặc biệt là những yêu cầu về phẩm chất và NL của họ trong giai đoạn hiện nay.
Con người là trung tâm, là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển đất nước. Các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của con người. Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa VII về "tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”; đề tài KX- 07-08 "Vai trò của nhà trường trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam bằng con đường giáo dục và đào tạo" nhấn mạnh đến vai trò của nhà trường mà trong đó giáo viên CNL là người trực tiếp tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com Mặc dù vậy, nghiên cứu về người giáo viên CNL ở nhà trường nói chung, ở trường THPT nói riêng cũng chưa có nhiều công trình đề cập đến.
Luận án tiện sĩ của Nguyễn Thúy Nga đã phân tích về những nội dung công tác của người giáo viên CNL trường Trung học cơ sở (THCS) nhưng không nói về năng lực giáo dục của họ. Một trong những công việc cụ thể hàng tuần của người giáo viên CNL, đó là tổ chức giờ sinh hoạt lớp. Xuất phát từ thực tế còn lúng túng trong việc tổ chức giờ sinh hoạt lớp cuối tuần của người giáo viên CNL, nãm 1999, nhóm tác giả gồm Nguyễn Đức Thạc, Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử và Nguyễn Gia Thụy đã biên soạn Tài liệu tham khảo bồi dưỡng nghiệp vụ dành cho giáo viên CNL “ Đổi mới tiết sinh hoạt lớp ở trường THCS và trường THPT”. Tài liệu đã giới thiệu một số mô hình tổ chức tiết sinh hoạt lớp theo hướng cải tiến cả về nội dung và hình thức tổ chức, giúp cho giáo viên CNL có thể vận dụng vào tình hình cụ thể của lớp mình, trường mình.
Năm 2000, Nguyễn Dục Quang và tập thể tác giả đã hoàn thành công trình nghiên cứu về "Cải tiến nội dung và phương pháp công tác của giáo viên chủ nhiệm lớp trường THPT trong giai đoạn hiện nay Trong công trình này, các tác giả đã hệ thống hóa nội dung và phương pháp công tác của người giáo viên CNL ở trường THPT, phân tích tính hợp lý và những hạn chế của nội dung và phương pháp để từ đó đưa ra những cải tiến cho phù hợp với tình hình thực tế. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được xuất bản thành cuốn sách "Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường THPT”. Cùng với kết quả nghiên cứu này, các tác giả đã xây dựng một số tình huống giáo dục học sinh của người giáo viên CNL và đã cho ra đời cuốn “Những tình huống giáo dục học sinh của người giáo viên chủ nhiệm”. Ngoài ra, cũng theo hướng nghiên cứu về người giáo viên CNL ở trường phổ thông còn có một số công trình khác nữa.
Chẳng hạn như: Hà Nhật Thăng và các cộng sự trong cuốn “Công tác giáo viên CNL ở trường phổ thông” đã trình bày những vấn đề về chức năng nhiệm vụ, về nội dung công tác chủ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com nhiệm lớp và hướng dẫn thực hiện một số nội dung công tác cụ thể của người giáo viên CNL ở trường phổ thông nói chung, mà không đi vào cụ thể cho cấp học nào. Năm 2010, Bộ GD&ĐT nhận thấy vấn đề giáo viên CNL có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển chất lượng nhà trường. Vì vậy, Bộ đã tổ chức Hội thảo khoa học về công tác của giáo viên CNL tại hai địa điểm là: thành phố Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh. Hội thảo đã thảo luận ve vị trí, vai trò, nội dung và phương pháp công tác của người giáo viên CNL ở trường phổ thông, những yêu cầu đối với giáo viên CNL, những khó khăn trong công tác CNL hiện nay.
Song chưa đề cập một cách cụ thể về những yêu cầu trong việc phát triển năng lực giáo dục cho đội ngũ giáo viên CNL. Xuất phát từ thực tiễn, nhiều dự án của Bộ GD&ĐT đã tổ chức biên soạn tài liệu tập huấn giáo viên CNL và CBQL ở các cấp bậc học khác nhau, cho các vùng miền khác nhau.