CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC 1.1 KHÁI NIỆM QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC Ngay từ những năm 90, sự suy giảm tính bền vững trong khai thác TNN đã khiến nhiều nhà quản lý đặt mối quan tâm vào giải pháp tổng hợp với mục tiêu đạt được sự PTBV. Khái niệm về QLTHTNN đã được biết đến và cùng với thời gian, nội dung của nó ngày càng được bổ sung và hoàn thiện. Trong chương 8 - Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) có nêu rõ: “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước dựa trên nhận thức là một bộ phận nội tại của hệ sinh thái, một nguồn tài nguyên thiên nhiên và một loại hàng hóa kinh tế và xã hội, mà số lượng và chất lượng quyết định bản chất của việc sử dụng. Vì mục đích này, tài nguyên nước cần phải được bảo vệ, để có thể thỏa mãn và dung hòa các nhu cầu về nước cho các hoạt động của con người” QLTHTNN ra đời thay thế cho khái niệm quản lý nguồn nước trước đây, mặc dù vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận, tuy nhiên về cơ bản điều thống nhất cho rằng “Quản lý tổng hợp tài nguyên nước là một quá trình đẩy mạnh, phối hợp phát triển và quản lý nguồn nước, đất đai và tài nguyên liên quan, để tối đa hoá lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội một cách công bằng mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiết yếu”.
[59] Quản lý: Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Tuy nhiên QLTNN được hiểu là không những tập trung vào việc phát triển nguồn nước mà còn phải có ý thức quản lý nó theo hướng bền vững.
Tổng hợp: Theo từ điển của Webster, tổng hợp là “nghệ thuật và khoa học” của sự hài hòa tỷ lệ các thành phần trong một thể thống nhất [69]. Nghĩa là lợi ích của tất cả các mục đích sử dụng khác nhau cần được xem xét một cách hài hòa. Việc ưu tiên phân bổ và các quyết định quản lý cần được xem xét trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng của mục đích sử dụng này đến mục đích sử dụng khác. 6 Như vậy QLTHTNN là một quá trình sắp xếp, phân bổ và kiểm soát việc sử dụng nguồn nước trên nguyên tắc xem xét tổng hợp các mục tiêu KTXH và MT (Hình 1.
Các thành phần và mối quan hệ của quản lý tổng hợp tài nguyên nước (Nguồn: [22],[56], [57] ) Trên cơ sở những vấn đề được nêu ở trên, khái niệm QLTHTNN khác với khái niệm QLTNN trước kia, nó đặc biệt quan tâm đến tác động qua lại giữa con người và thiên nhiên, do đó tổng hợp được xem xét theo cả hai hệ: Hệ tự nhiên với đặc trưng chủ yếu là số lượng và chất lượng của các TN như nước, đất, không khí và các TN sinh học, là đầu vào quan trọng cho hệ con người và được coi là tầm quan trọng sống còn đối với khả năng và chất lượng TN; Hệ con người (nhân tạo) là cơ bản xác định việc sử dụng TN, xả thải và làm ô nhiễm TN, đồng thời là nguồn động lực cho những ưu tiên phát triển. Quản lý hệ con người là quản lý việc sử dụng nguồn TN tự nhiên trong đó có TNN. Nếu làm tốt các mặt tổng hợp trong quan hệ hài hoà giữa hệ tự nhiên và con người nghĩa là hài hòa giữa ba thành tố KT – XH – MT, sẽ đạt được sự QLTNN bền vững. Nguyên tắc Quản lý tổng hợp tài nguyên nước Hội nghị quốc tế về Nước và Môi trường tại Dublin tháng 1 năm 1992 đã đưa ra 4 nguyên tắc cơ bản để thực thi QLTHTNN (hay còn gọi 4 nguyên tắc Dublin) như sau: Nguyên tắc 1: Nước ngọt là nguồn tài nguyên có hạn, dễ bị tổn thương và cần thiết cho sự sống, phát triển và môi trường.
Nước là nguồn TN có hạn, vì vậy trong quản lý sử dụng nước cần phải hạn chế sự thất thoát lãng phí, hạn chế các tác động làm suy giảm khả năng tái tạo nguồn nước, suy 7 giảm số lượng và chất lượng nước. Nguyên tắc này mở ra cách tiếp cận tổng hợp về QLTNN, cách tiếp cận này đòi hỏi phải xem xét tất cả các đặc tính nguồn nước cũng như những tương tác của nước với các TN khác và HST. Nguyên tắc chỉ ra rằng, nước rất cần thiết cho nhiều lĩnh vực với mục đích, chức năng và nhiệm vụ khác nhau, do đó QLTNN phải là tổng hợp, không những xem xét tất cả các nhu cầu mà còn cần phải xem xét các hướng ảnh hưởng xấu đến TNN. Nguyên tắc 2: Phát triển và quản lý nước phải dựa trên cơ sở tiếp cận với sự tham gia của các bên có liên quan, từ các hộ sử dụng nước đến người lập kế hoạch, người lập chính sách, ở mọi cấp độ.
Nguyên tắc này cho rằng vai trò của các hộ sử dụng nước cũng quan trọng như người lập quy hoạch hay xây dựng chính sách về nước. Đây là cách tiếp cận mới về mặt quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng nguồn nước. Sự tham gia của cộng đồng có ý nghĩa to lớn trong việc lập kế hoạch, vận hành, duy trì các hệ thống cấp nước mà cộng đồng được hưởng lợi. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng đạt được sự nhất trí mà đôi lúc nảy sinh mâu thuẫn.
Do đó, cần phải có cơ chế cụ thể để giải quyết thoả đáng các mâu thuẫn phát sinh. Trong đó cộng đồng dân cư - Những người trực tiếp hưởng lợi hay gánh chịu thiệt hại là đối tượng quan trọng mà các cấp chính quyền cần tạo điều kiện thuận lợi để họ tham gia đóng góp xây dựng các chính sách, quyết định trong QLTHTNN. Nguyên tắc 3: Phụ nữ đóng vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lý và đảm bảo an toàn về nước. Nguyên tắc này chỉ rõ vai trò của phụ nữ và cho thấy cần phải có những cơ chế thích hợp để nâng cao khả năng tiếp cận của phụ nữ để có thể tham gia vào QLTHTNN.
Nguyên tắc cũng chỉ rõ, trong QLTHTNN đòi hỏi phải nâng cao nhận thức về giới, sự liên quan của nam giới và nữ giới tại mọi cấp độ trong QLTNN có thể góp phần đạt được QLTNN bền vững. Nguyên tắc 4: Nước có giá tri kinh tế ở nhu cầu cạnh tranh sử dụng và phải được xem như hàng hóa có giá trị kinh tế. Giá trị KT của nước mà nguyên tắc chỉ ra là nhận thức mới nhất của nhân loại, làm thay đổi cách tiếp cận trong nghiên cứu, xây dựng và hoạch định chính sách 8 QLTNN. Nó đặt ra những yêu cầu đổi mới trong cơ chế quản lý, cách sử dụng nước sao cho hiệu quả nhất và phải phát huy được giá trị như bất kỳ một loại hàng hóa nào khác.
Việc quản lý nước như một loại hàng hóa có giá trị về mặt KT&XH là yếu tố rất quan trọng để đạt được các mục tiêu như: Sử dụng và phân bổ nguồn nước công bằng và hiệu quả; Đảm bảo việc duy trì và bảo vệ nguồn nước.2 QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1.1 Quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên thế giới Tổ chức cộng tác vì nước toàn cầu (GWP) được thành lập từ năm 1996 là một mạng lưới mở cho mọi tổ chức có liên quan đến QLTNN. Tổ chức này nhằm thúc đẩy QLTHTNN với mục tiêu đảm bảo liên kết phát triển và quản lý nguồn nước, đất, những TN liên quan bằng cách tăng tối đa lợi ích KT và phúc lợi XH mà không làm ảnh hưởng xấu đến tính bền vững của những hệ thống thiết yếu. Ủy ban tư vấn kỹ thuật của GWP đưa ra những tiền đề cho QLTHTNN gồm: [72] - TNN ngọt thế giới đang chịu sức ép do tăng trưởng dân số, gia tăng các hoạt động KT, cải thiện mức sống dẫn tới sự cạnh tranh và mâu thuẫn về nguồn nước ngọt. Việc thiếu những biện pháp chống ô nhiễm cũng làm cho TNN suy thoái trầm trọng hơn.
- Dân số dưới sức ép về nước: Theo tính toán hiện nay có khoảng một phần ba dân số thế giới đang chịu sức ép mức trung bình và mức cao về nước. Theo ước tính, tỷ lệ này còn có thể tăng đến hai phần ba vào năm 2025. - Tác động của ô nhiễm nước có liên quan chặt chẽ đến các hoạt động của con người: Ngoài các chức năng phục vụ những nhu cầu cơ bản của đời sống và sản xuất, nước còn có vai trò như một tác nhân truyền tải chất thải sinh họat, nông nghiệp và công nghiệp gây ô nhiễm. Nguồn nước suy thoái do ô nhiễm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng nguồn nước ở hạ lưu đe dọa sức khỏe con người và chức năng của HST nước.
- Sự khủng hoảng trong quản lý về TNN: Cách tiếp cận QLTNN theo ngành đã và đang dẫn đến việc phân mảng, thiếu phối hợp trong phát triển và QLTNN. Thêm vào đó, việc thực hiện công tác quản lý thường theo hướng từ các cơ quan cấp trên xuống, mà hiệu quả của phương thức quản lý này vẫn còn là vấn đề cần phải xem xét. 9 - Đảm bảo nước cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất lương thực: Những tác động này trước hết ảnh hưởng đến việc đáp ứng nhu cầu nước sạch và vệ sinh cho thành phần dân số nghèo của các nước đang phát triển. Từ các vấn đề nêu trên, trong những thập kỷ gần đây, việc nghiên cứu và thực thi QLTHTNN trên thế giới đã có những chuyển biến tích cực, nhiều quốc gia như: Pháp, Úc, Mỹ, Trung Quốc… đã hình thành các tổ chức QLLVS phù hợp với điều kiện thực tế của từng lưu vực, đã mang lại kết quả nhất định trong việc tăng hiệu quả sử dụng nước.
1/ Mô hình quản lý tài nguyên nước lưu vực sông một số nước a. Quản lý lưu vực sông của Morocco [61] Morocco là một quốc gia có TNN rất hạn chế, phân bố không đều theo không gian và thời gian. Cũng như nhiều quốc gia khác, TNN của Morocco đã và đang chịu sức ép rất lớn trước việc gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa, BĐKH, ô nhiễm nguồn nước… Năm 1995, luật về nước của Morocco được ban hành, đây được xem là khung pháp lý toàn diện cho việc QLTHTNN ở quốc gia này.