Chương 1 trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản như khái niệm, định nghĩa, thuật ngữ, thực trạng,… về quản lý bảo trì công nghiệp nhằm giúp sinh viên dễ dàng hơn trong quá trình tiếp cận các chương nội dung sau. Tuy đây chỉ là những kiến thức cơ bản nhưng chương này rất cần thiết đối với sinh viên kỹ thuật vì cách nhìn nhận vấn đề của sinh viên khối xã hội và kỹ thuật khác nhau, trong khi kiến thức môn học này chủ yếu liên quan đến kiến thức xã hội. Khái niệm về quản lý Định nghĩa Khi xem một dàn nhạc đang biểu diễn nhạc thính phòng, chúng ta thấy người nhạc trưởng không hề chơi một nhạc cụ gì (đôi khi anh ta cũng không cần phải chơi tốt các nhạc cụ) nhưng anh ta đóng vai trò rất quan trọng trong dàn nhạc: điều khiển dàn nhạc hay nói cách khác là quản lý dàn nhạc biểu diễn theo bài nhạc được soạn ra bởi người nhạc sĩ. Như vậy quản lý là quá trình sử dụng nguồn lực của tổ chức để đạt mục tiêu của tổ chức bằng cách: - Hoạch định quá trình xác định mục tiêu của tổ chức, xây dựng chiến lược tổng thể để đạt mục tiêu và đề ra các kế hoạch phối hợp hỗ trợ chiến lược.
- Tổ chức xác định công việc cần làm, thành lập các bộ phận đảm nhận công việc, phân công công việc và xác định quyền hạn và trách nhiệm cho các cá nhân. - Điều khiển quá trình tuyển dụng và đào tạo nhân sự, truyền đạt thông tin trong nội bộ, lãnh đạo và động viên nhân viên để đảm bảo đạt mục tiêu của doanh nghiệp. Điều khiển giúp cho nhân viên có kiến thức, kỹ năng và động lực để nỗ lực thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. - Kiểm tra chức năng đảm bảo công việc của tổ chức đúng hướng và thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
Để kiểm tra cần xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra, đo lường kết quả thực tế, so sánh kết quả thực tế với tiêu chuẩn và phát hiện sai lệch và điều chỉnh sai lệch. 15 Vai trò quản lý Hình 1.1 Nguồn: Tổ chức InWent và I.1 minh họa một con bò có một sức lực rất dồi dào nhưng vẫn không giúp ích được gì vì nó bị trói vào gốc cây. Tuy nhiên trong hình 1.2 nó sinh công hữu ích vì người chủ của nó biết cách quản lý con bò sao cho nó làm việc hữu ích nhất.2 Nguồn: Tổ chức InWent và I. (Đức) Rõ ràng muốn nâng cao hiệu quả hệ thống cần phải có quản lý.
Quản lý sẽ nâng cao hiệu quả lẫn hiệu suất quá trình. Cụ thể: hiệu quả đo lường bằng kết quả thực hiện so với mục tiêu đề ra và hiệu suất đo lường bằng kết quả thực hiện so với chi phí đầu vào. Tính khoa học và nghệ thuật của quản lý Để phân biệt “Lãnh đạo (leader)” và quản lý (manager)” người ta thường dùng câu “Leader make right things, manager make things right” nghĩa là người lãnh đạo phải luôn sáng tạo để tìm ra những hướng đi mới giúp công ty nhanh chóng về đích còn người quản lý chỉ cần điều hành mọi người trong công ty thực hiện đúng những quy chế có sẵn trong công ty, giúp công ty luôn đi đúng hướng mà người lãnh đạo đã đặt ra. Tuy 16 nhiên nếu dựa vào câu nói này mà gọi quản lý là những công việc được định sẵn theo những công thức cố định và mọi người chỉ làm theo mà không cần sáng tạo lại là sai! Tuy mức độ sáng tạo ở người quản lý không cao như người lãnh đạo nhưng quản lý vẫn là một nghệ thuật.
Nghĩa là bên cạnh những quy luật, công thức,… có sẵn (tính khoa học trong quản lý) thì người quản lý cần có những sáng tạo giúp việc vận dụng quy luật, công thức,… trên một cách uyển chuyển, có hiệu quả… mang nặng tính nghệ thuật. Tính khoa học - Cung cấp cho nhà quản trị phương pháp quản lý khoa học đúc kết từ thực tiễn. - Quản lý học là môn học có liên quan và dựa trên kiến thức của nhiều môn học. Tính nghệ thuật - Nhà quản lý phải biết vận dụng linh hoạt quản lý vào thực tế dựa vào đặc điểm doanh nghiệp, nhân viên.
- Không có công thức, khuôn mẫu tối ưu mà chỉ có định dạng phù hợp nhất cho từng tình huống thực tế của công ty, xí nghiệp,… cần quản lý. Khái niệm về bảo trì 1. Định nghĩa của Afnor (Tiêu chuẩn công nghiệp Pháp): “Bảo trì là tập hợp các hoạt động nhằm duy trì hoặc phục hồi một tài sản ở tình trạng nhất định hoặc bảo đảm một dịch vụ xác định”. Ý nghĩa của định nghĩa trên là tập hợp các hoạt động, các phương tiện, các biện pháp kỹ thuật để thực hiện công tác bảo trì.
Duy trì: phòng ngừa các hư hỏng có thể xảy ra để duy trì tình trạng hoạt động của tài sản (máy móc, thiết bị). Phục hồi: sửa chữa hay phục hồi lại trạng thái ban đầu của tài sản (bao gồm tất cả các thiết bị, dụng cụ sản xuất, dịch vụ. Định nghĩa của BS 3811: 1984 (British Standard = Tiêu chuẩn Anh quốc): “Bảo trì là tập hợp tất cả các hành động kỹ thuật và quản trị nhằm giữ cho thiết bị luôn ở một tình trạng nhất định hoặc phục hồi nó về một tình trạng trong đó nó có thể thực hiện chức năng yêu cầu. Chức năng yêu cầu này có thể định nghĩa như là một tình trạng xác định nào đó”.
Định nghĩa của Total Productivity Development AB (Thụy Điển): 17 “Bảo trì bao gồm tất cả các hoạt động được thực hiện nhằm giữ cho thiết bị ở một tình trạng nhất định hoặc phục hồi thiết bị về tình trạng này. Định nghĩa của Dimitri Kececioglu (Mỹ): “Bảo trì là bất kì hành động nào nhằm duy trì các thiết bị không bị hư hỏng ở một tình trạng đạt yêu cầu về mặt độ tin cậy và an toàn và nếu chúng bị hư hỏng thì phục hồi chúng về tình trạng ban đầu”. Định nghĩa của DIN 31051 (Deutsche Industrie Norm: Tiêu chuẩn công nghiệp Đức): Bảo trì gồm các hoạt động sau: bảo dưỡng, kiểm định, sửa chữa và thêm vào đó là các biện pháp theo trình tự được kê khai sau đây: - “Để duy trì tình trạng lý tưởng (Tình trạng cần)”. - “Để kiểm tra và đánh giá tình trạng thực”.
- “Để tái tạo lại tình trạng lý tưởng” của máy móc và thiết bị”. Trong các định nghĩa này, điểm quan trọng nằm ở ranh giới của các biện pháp và cách thức nhìn nhận khác nhau về các dự án kế hoạch bảo trì giữa các nước. Dễ dàng tìm thấy trong các tài liệu hàng loạt các quan điểm và sự nhìn nhận khác nhau về bảo trì, triết lý về bảo trì, chiến lược bảo trì và các biện pháp bảo trì, kế hoạch bảo trì,… Đặc biệt là khi so sánh các nguyên tắc của Đức, châu Âu, Hoa Kỳ hoặc của Nhật Bản sẽ thấy một sự đa dạng phong phú về các khái niệm. Thậm chí trong cùng một quốc gia cũng có nhiều quan điểm “mới” và khác biệt nhau tồn tại trong cuộc sống và được diễn tả theo số đông người dùng theo từng vùng miền, thí dụ tại Việt Nam thuật ngữ “bảo trì” theo phương ngữ miền Nam sẽ tương đương với “bảo dưỡng sửa chữa” của phương ngữ miền Bắc… Vấn đề cơ bản ở đây nằm ở thói quen sử dụng thuật ngữ mà thôi! Tài liệu này sẽ được viết theo định nghĩa của Đức, Bảo trì (Maintenance) gồm 3 hoạt động: Bảo dưỡng (servicing); Kiểm định (inspection) và Sửa chữa, thay thế (repair, replacement).
Định nghĩa mới nhất của người Đức Theo quan điểm của người Đức: tất cả các hoạt động bảo trì được tóm tắt dưới ba khái niệm chính: - Bảo dưỡng: là biện pháp để bảo đảm trạng thái cần của các thiết bị trong một hệ thống. - Kiểm định: là biện pháp xác định, đánh giá trạng thái thực của các thiết bị kỹ thuật trong một hệ thống. 18 - Sửa chữa, thay thế: là biện pháp phục hồi, tái tạo trạng thái cần của các thiết bị trong một hệ thống. Từ đây có thể suy ra bảo trì là các biện pháp để duy trì và tái tạo trạng thái cần cũng như xác định và đánh giá trạng thái thực của các phương tiện kỹ thuật trong một hệ thống.
Dưới góc độ các quan niệm về kinh tế có thể đưa ra một phác họa đơn giản khác về triết lý bảo trì được mô tả như sau: - Giảm thiểu các chi phí dừng máy không chú ý tới vấn đề kinh tế của chi phí bảo trì. - Các hao tổn kinh tế cho bảo trì tương quan tới chi phí dừng máy móc thiết bị. - Giảm thiểu các chi phí bảo trì không chú ý tới vấn đề kinh tế của chi phí dừng máy móc thiết bị. Tóm lược Có rất nhiều định nghĩa về bảo trì nhưng nội dung cốt lõi là: “Bảo trì là tập hợp tất cả các hoạt động nhằm duy trì trạng thái cần (necessary state) của người lẫn thiết bị, thường thực hiện dưới 3 hình thức: bảo dưỡng, kiểm định và sửa chữa, thay thế”.
Nghĩa là khác với trước kia, bảo trì hiện đại phải chấp nhận đương đầu với mọi rủi ro để duy trì trạng thái hoạt động theo mọi yêu cầu của quá trình sản xuất. Điều này đồng nghĩa với các khái niệm dừng máy để tiểu tu, trung tu và đại tu nay không còn thích hợp 100% cho các quy trình sản xuất nữa… vì trong bảo trì hiện đại chúng ta phải đáp ứng mọi nhu cầu tiên phong từ dây chuyền sản xuất. Nghĩa là nếu công nghệ yêu cầu không được dừng máy để kiểm tra thì chúng ta cũng phải có thiết bị đo nóng! Tất nhiên khi có thể dừng máy theo kế hoạch để bảo trì thì vẫn có thể sử dụng tiểu tu, trung tu và đại tu như các hãng xe vẫn bảo trì xe như hiện nay, đó cũng là một dạng của bảo trì hiện đại. LỊCH SỬ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO TRÌ Hình 1.3: Lịch sử phát triển của con người và kỹ thuật 19 Cùng với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp, công việc và nhân sự bảo trì cũng phải thay đổi một cách tương ứng, đặc biệt có rất nhiều thay đổi trong thế kỷ XX.
Như minh họa trên hình 1.3, quá trình phát triển của bảo trì cũng tuân theo những quy luật khách quan.