Tổng quan nghiên cứu

Vấn đề an toàn thực phẩm đang trở thành thách thức mang tính toàn cầu khi đe dọa trực tiếp đến tính mạng và sự phát triển giống nòi của con người. Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm toàn cầu ghi nhận khoảng 2,2 triệu người tử vong do tiêu chảy và ngộ độc thực phẩm, trong đó có tới 1,9 triệu trẻ em. Tại Việt Nam, tình trạng mất an toàn vệ sinh thực phẩm diễn biến hết sức phức tạp khi tỷ lệ gia tăng ung thư thuộc nhóm cao trên thế giới với mức tăng khoảng 35%. Hằng năm, quốc gia phải dành khoảng 0,22% GDP để chi trả chi phí y tế cho 6 căn bệnh ung thư phổ biến có căn nguyên chính từ thực phẩm không an toàn. Riêng trong 10 tháng đầu năm 2018, cả nước đã xảy ra 91 vụ ngộ độc thực phẩm khiến hơn 2.010 người mắc và 15 trường hợp tử vong.

Quảng Ngãi là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có diện tích tự nhiên 515.295,46 ha, gồm 14 đơn vị hành chính cấp huyện với 184 xã, phường, thị trấn cùng đường bờ biển dài hơn 130 km. Dù kinh tế địa phương đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 13,25%/năm trong giai đoạn 2013 - 2018, công tác quản lý an toàn thực phẩm đối với nông, lâm, thủy sản vẫn bộc lộ nhiều lỗ hổng nghiêm trọng. Vùng trồng trọt an toàn còn manh mún, cơ sở giết mổ tập trung đạt chuẩn thú y chưa được hoàn thiện, trong khi các chợ tự phát và dịch vụ ăn uống phát triển tràn lan.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm nông, lâm, thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 - 2018. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện đến năm 2020 nhằm hiện thực hóa Nghị quyết 43/2017/QH14 của Quốc hội, bảo vệ sức khỏe cho hơn 1,2 triệu người dân địa phương và nâng cao giá trị hàng hóa nông sản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản lý hành chính nhà nước và mô hình kiểm soát chuỗi cung ứng thực phẩm từ trang trại đến bàn ăn theo hướng dẫn của Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm Quốc tế (Codex Alimentarius CAC/RCP 1-1969). Bên cạnh đó, luận văn tích hợp khung lý thuyết phân tích nguy cơ bao gồm 3 cấu phần: đánh giá nguy cơ, quản lý nguy cơ và truyền thông nguy cơ nhằm thiết lập quy trình kiểm soát chuyên ngành đối với sản phẩm nông, lâm, thủy sản.

Bốn khái niệm nền tảng được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  • Thực phẩm: Theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 7087:2013 và Luật An toàn thực phẩm năm 2010, thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản.
  • An toàn thực phẩm: Việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.
  • Sản phẩm nông, lâm, thủy sản: Các sản phẩm có nguồn gốc từ trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và khai thác hoặc nuôi trồng thủy hải sản, có đặc tính dễ hư hỏng và biến chất.
  • Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm: Sự tác động có tổ chức mang quyền lực nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền lên hành vi của các chủ thể tham gia chuỗi giá trị thực phẩm.

Khung pháp lý điều chỉnh được phân định rõ ràng theo Điều 61, 62, 63 và 64 của Luật An toàn thực phẩm năm 2010, quy định trách nhiệm liên ngành của 3 bộ: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương cùng Ủy ban nhân dân các cấp. Cơ sở chính trị của nghiên cứu còn căn cứ trên Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 34/2009/NQ-QH12 của Quốc hội về tăng cường quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ nguồn thứ cấp chính thống, bao gồm Niên giám Thống kê tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2013 đến năm 2018, các báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Y tế, Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản Quảng Ngãi. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua hồ sơ theo dõi thanh tra, kiểm tra và cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm tại địa phương.

Cỡ mẫu khảo sát bao phủ toàn bộ 14 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Quảng Ngãi, bao gồm 1 thành phố, 6 huyện đồng bằng, 6 huyện miền núi và 1 huyện đảo với tổng số 184 xã, phường, thị trấn. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng để khảo sát chi tiết các mắt xích quản lý tại 6 cửa biển lớn (Sa Cần, Sa Kỳ, Cổ Lũy, Cửa Lở, Mỹ Á, Sa Huỳnh) và các vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa phương pháp luận duy vật biện chứng, thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh liên ngành. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm bóc tách biến động dữ liệu đa chiều qua chuỗi thời gian 2013 - 2018, làm rõ mối quan hệ giữa tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và năng lực đáp ứng của bộ máy quản lý nhà nước tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng sản xuất nông, lâm, thủy sản đạt mức cao nhưng công tác kiểm soát an toàn chưa tương xứng. Giá trị sản xuất toàn ngành năm 2018 gấp 3,58 lần so với năm 2001, đạt mức tăng trưởng bình quân 5,46%/năm. Trong đó, ngành thủy sản có bước nhảy vọt gấp 9,89 lần (tăng 10,02%/năm), nông nghiệp gấp 2,59 lần (tăng 4,04%/năm) và lâm nghiệp gấp 4,37 lần (tăng 6,34%/năm). Tuy nhiên, các vùng trồng rau màu an toàn chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ lẻ, chưa đáp ứng nhu cầu thị trường, toàn tỉnh vẫn thiếu hệ thống lò giết mổ gia súc, gia cầm tập trung đạt chuẩn vệ sinh thú y.

Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo áp lực lớn lên hệ thống phân phối thực phẩm. Cơ cấu GRDP của tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2013 - 2018 dịch chuyển mạnh mẽ khi khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 32,9% lên 53,9%, trong khi nông - lâm - thủy sản giảm từ 31,9% xuống 19,3% (năm 2018 đạt 17,82% theo giá hiện hành). Sự gia tăng các khu công nghiệp kéo theo sự phát triển bùng nổ của các bếp ăn tập thể tự phát, dịch vụ cung cấp suất ăn sẵn và thức ăn đường phố không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn, tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc hàng loạt.

Thứ ba, nguồn lực tài chính và nhân sự cho bộ máy quản lý nhà nước còn thiếu hụt trầm trọng. Mức chi ngân sách bình quân cho an toàn thực phẩm giai đoạn trước chỉ đạt khoảng 780 đồng/người/năm, tương đương 1/19 mức đầu tư của Thái Lan và 1/136 của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA). Mạng lưới cán bộ phụ trách an toàn thực phẩm tại 14 huyện và 184 xã chủ yếu làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, thiếu chuyên môn sâu và chưa được trang bị đầy đủ phương tiện, dụng cụ kiểm nghiệm nhanh tại chỗ.

Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra và phối hợp liên ngành còn mang tính hình thức. Việc kiểm tra định kỳ chưa đủ sức răn đe, chưa truy xuất được tận gốc nguồn nguyên liệu thực phẩm lưu thông qua các chợ truyền thống và hàng hóa từ các tỉnh lân cận nhập vào địa bàn.

Thảo luận kết quả

Thực trạng bất cập tại Quảng Ngãi bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh với thói quen tiêu dùng truyền thống. Năm 2018, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước đạt 51.224,84 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người đạt 57,8 triệu đồng/năm (tương đương 2.514 USD), nhưng phần lớn người tiêu dùng vẫn duy trì thói quen mua sắm tại chợ tạm do yếu tố giá rẻ. Đặc điểm thổ nhưỡng với 73,07% là nhóm đất xám bạc màu khiến chi phí sản xuất nông sản an toàn đạt chuẩn VietGAP cao hơn thông thường, làm giảm sức cạnh tranh trước các mặt hàng trôi nổi không rõ nguồn gốc.

Khi so sánh với các nghiên cứu của Bùi Thị Hồng Nương trên phạm vi toàn quốc hoặc Vũ Sỹ Thành tại Hà Nội và Trần Thị Khúc tại Bắc Ninh, các hạn chế về quản lý phân tán và thiếu hụt trang thiết bị kiểm nghiệm là điểm nghẽn chung. Tuy nhiên, bài học thực tiễn từ tỉnh Quảng Ninh cho thấy hiệu quả rõ rệt khi ban hành 113 văn bản chỉ đạo chuyên ngành, vận hành đường dây nóng tiếp nhận tố giác và triển khai bộ test nhanh phát hiện 14 chất độc hại tại các chợ đầu mối.

Dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp (nông nghiệp chiếm 63,6%, lâm nghiệp chiếm 4,9%, thủy sản chiếm 31,5% trong năm 2018) và các chỉ số thanh tra có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp đồ thị đường xu hướng. Cách biểu diễn này giúp cơ quan quản lý dễ dàng nhận diện điểm nóng rủi ro theo từng địa bàn hành chính.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với nông, lâm, thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, hệ thống giải pháp trọng tâm cần được thực hiện đồng bộ:

  • Hoàn thiện quy hoạch vùng sản xuất an toàn tập trung: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì quy hoạch lại vùng chuyên canh rau an toàn, vùng nuôi trồng thủy sản tập trung theo chuẩn VietGAP, VietGAHP và HACCP. Mục tiêu đến năm 2020 nâng tỷ lệ nông sản an toàn được kiểm soát nguồn gốc lên mức tối thiểu 60% tổng sản lượng tiêu thụ toàn tỉnh.
  • Đầu tư cơ sở hạ tầng kiểm nghiệm và trang thiết bị di động: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi cần ưu tiên bố trí ngân sách, nâng mức chi đầu tư cho an toàn thực phẩm tăng gấp 3 đến 5 lần so với giai đoạn trước. Cần trang bị tối thiểu 14 bộ thiết bị test nhanh lưu động có khả năng phát hiện 10 đến 14 hoạt chất độc hại cho 14 trung tâm dịch vụ nông nghiệp tuyến huyện trong giai đoạn 2019 - 2020.
  • Kiện toàn tổ chức bộ máy và đào tạo chuyên môn hóa nhân lực: Sở Nội vụ phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiến hành chuẩn hóa chức danh, tổ chức đào tạo nghiệp vụ cho 100% cán bộ làm công tác quản lý an toàn thực phẩm tại 184 xã, phường, thị trấn trước quý IV/2020, từng bước xóa bỏ tình trạng kiêm nhiệm thiếu chuyên môn.
  • Thiết lập cơ chế kiểm tra liên ngành và truy xuất nguồn gốc điện tử: Ban Chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm tỉnh tăng cường thanh tra đột xuất tại các chợ truyền thống, bếp ăn khu công nghiệp và 6 cửa biển lớn. Triển khai ứng dụng tem điện tử QR code truy xuất nguồn gốc cho 80% sản phẩm chủ lực (quế Trà Bồng, tỏi Lý Sơn, thủy sản đánh bắt) trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách: Lãnh đạo và chuyên viên thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Y tế, Sở Công Thương, Chi cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản tại Quảng Ngãi cũng như các tỉnh duyên hải miền Trung. Tài liệu cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng chính sách phân cấp quản lý và đề án quy hoạch nông nghiệp an toàn.
  • Doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất nông, lâm, thủy sản: Các cơ sở nuôi trồng, khai thác thủy sản tại các cảng cá Sa Kỳ, Tịnh Hòa và cơ sở sơ chế nông sản. Nghiên cứu giúp các chủ thể nắm vững tiêu chuẩn kỹ thuật (VietGAP, GMP, HACCP) để chủ động nâng cấp quy trình và phòng ngừa chế tài xử phạt hành chính.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Nhóm đối tượng thuộc các chuyên ngành Quản lý công, Luật Hành chính, Kinh tế nông nghiệp và Quản lý chất lượng. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về khung lý thuyết phân tích chuỗi cung ứng và phương pháp đánh giá thực tiễn tại một địa phương cụ thể.
  • Ban quản lý các khu công nghiệp, trường học và bếp ăn tập thể: Các đơn vị quản lý suất ăn công nghiệp tại Khu kinh tế Dung Quất và hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh. Tài liệu cung cấp danh mục tiêu chí kiểm soát nguyên liệu đầu vào và các biện pháp ngăn ngừa ngộ độc thực phẩm tập thể.

Câu hỏi thường gặp

  • Trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản được phân định như thế nào? Theo Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Sở chuyên ngành tại địa phương chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ chuỗi sản xuất ban đầu, thu gom, giết mổ, sơ chế, chế biến, bảo quản và vận chuyển nông, lâm, thủy sản, ngũ cốc, thịt và sản phẩm từ thịt.

  • Thực trạng đầu tư tài chính cho công tác bảo đảm an toàn thực phẩm ở nước ta ra sao? Nguồn kinh phí đầu tư cho an toàn thực phẩm còn ở mức rất khiêm tốn. Số liệu thống kê cho thấy mức chi bình quân chỉ đạt khoảng 780 đồng/người/năm, thấp hơn 19 lần so với Thái Lan và thấp hơn 136 lần so với mức đầu tư của cơ quan quản lý thực phẩm tại Hoa Kỳ.

  • Vì sao công tác thanh tra, kiểm tra an toàn thực phẩm tại tuyến cơ sở của Quảng Ngãi còn mang tính hình thức? Nguyên nhân chủ yếu do lực lượng cán bộ tại 14 huyện và 184 xã phải kiêm nhiệm nhiều đầu việc, thiếu trang thiết bị test nhanh di động, trong khi sự phối hợp giữa 3 ngành Nông nghiệp, Y tế và Công Thương chưa thực sự đồng bộ và liên tục.

  • Những yếu tố tự nhiên nào của Quảng Ngãi ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất thực phẩm an toàn? Tỉnh có bờ biển dài 130 km cùng trữ lượng hải sản lớn khoảng 75.000 tấn, nhưng 73,07% diện tích đất thuộc nhóm đất xám nghèo dinh dưỡng và lượng mưa tập trung 65 - 70% vào các tháng cuối năm, gây ngập úng và gia tăng chi phí canh tác nông sản sạch.

  • Mô hình quản lý theo chuỗi từ trang trại đến bàn ăn đem lại hiệu quả thực tiễn gì? Mô hình này giúp cơ quan chức năng kiểm soát chặt chẽ từng công đoạn từ nguyên liệu giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến sơ chế và tiêu thụ, cho phép truy xuất nguồn gốc chính xác và cô lập nhanh chóng các lô hàng vi phạm khi xảy ra sự cố.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận toàn diện về quản lý nhà nước đối với an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.
  • Phân tích chi tiết thực trạng sản xuất nông lâm thủy sản tại Quảng Ngãi giai đoạn 2013 - 2018 với tốc độ tăng trưởng ngành đạt 5,46%/năm và chỉ ra 4 nhóm hạn chế then chốt trong quản lý.
  • Đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế, tổ chức bộ máy và nguồn lực đầu tư còn thấp (khoảng 780 đồng/người/năm) đến chất lượng kiểm soát thực phẩm.
  • Kế thừa bài học thành công từ các địa phương như Quảng Ninh và Quảng Bình để xây dựng mô hình kiểm soát mối nguy thích ứng với điều kiện Quảng Ngãi.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao, gắn liền với mốc thời gian hoàn thành trước năm 2020 nhằm đáp ứng yêu cầu của Nghị quyết 43/2017/QH14.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh toàn cảnh, chân thực về những lỗ hổng trong quản lý thực phẩm nông, lâm, thủy sản tại một tỉnh duyên hải đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ. Các cơ quan quản lý nhà nước, ban ngành chuyên môn và chính quyền địa phương cần khẩn trương nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp trong luận văn vào thực tiễn chỉ đạo để xây dựng chuỗi cung ứng thực phẩm minh bạch, an toàn và bền vững cho cộng đồng.