Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM 1. An toàn thực phẩm và pháp luật an toàn thực phẩm 1. An toàn thực phẩm Thực phẩm là nguồn cung cấp năng lượng, cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết để con người sống và phát triển. Tuy nhiên, vì những lợi nhuận nên các nhà sản xuất và kinh doanh thực phẩm vẫn sử dụng những biện pháp bảo quản, kích thích tăng trưởng không hợp lý làm thực phẩm trở nên không an toàn.
Vì thế thực phẩm là tác nhân chính dẫn đến ngộ độc thực phẩm và các căn bệnh đặc biệt nguy hiểm t tiêu chảy cấp đến ung thư. Việt Nam cũng là một trong những nước có số lượng người mắc bệnh ung thư nhiều nhất thế giới và nguyên nhân chính là thực phẩm ăn hàng ngày của con người. Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm [42].
Mỗi loại thực phẩm đều có quy định riêng về ngưỡng an toàn và khi thực phẩm chứa những yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe con người thì gọi là thực phẩm không an toàn. Sử dụng các loại thực phẩm không an toàn, người tiêu dùng đã phải trả giá quá đắt bằng chính sức khoẻ, thậm chí cả tính mạng của mình do bị ngộ độc thực phẩm và mầm mống gây ra căn bệnh ung thư quái ác đang ngày một tích tụ và chờ bộc phát. Nhưng có không ít người tiêu dùng không quan tâm đến vấn đề ATTP khi mua các thực phẩm thiết yếu tiêu dùng hàng ngày (như rau, cá, thịt…. Các hóa chất độc hại như thuốc bảo vệ thực vật (thuốc tr sâu, tr bệnh và thuốc tr cỏ dại…), thuốc kích thích tăng trưởng, kim loại nặng, các vi 7 sinh vật gây bệnh có trong các loại rau quả hoặc các chất kháng sinh, chất tăng trọng có trong thịt, cá sẽ tích lũy dần trong các mô mỡ, tủy sống…của con người, là tiền đề để phát sinh các loại bệnh tật như ung thư, loãng xương, suy giảm trí nhớ và thoái hóa xương khớp.
Khi bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc thì thực phẩm lại là nguồn truyền bệnh nguy hiểm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng con người và sự phát triển của xã hội. Ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm gây ra không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và cuộc sống của mỗi người, mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng chi phí cho công tác chăm sóc sức khoẻ. Theo Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm số 12/2003/PLUBTVQH11 ngày 26/7/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, VSATTP được hiểu là các điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người [56]. VSATTP hiểu theo nghĩa hẹp là một môn khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ng a, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra.
Hiểu theo nghĩa rộng, VSATTP là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết t khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. Tuy nhiên để phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế sau khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào 01/01/2007, khái niệm này đã được đơn giản hóa, ngắn gọn và phù hợp hơn, được thể hiện trong Luật An toàn thực phẩm năm 2010 có hiệu lực thi hành t ngày 01/7/2011, theo đó ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người. T đây, có thể hiểu theo nghĩa hẹp đó là việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp 8 phòng ng a, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra. ATTP cũng bao gồm các quy trình, quy định áp dụng trong t ng khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ sức khỏe có tiềm năng nghiêm trọng.
Hiểu theo nghĩa rộng, đảm bảo ATTP là toàn bộ những vấn đề cần xử lý liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh đối với thực phẩm nhằm đảm bảo cho sức khỏe của người tiêu dùng. Như vậy an toàn thực phẩm là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết t khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. Vì vậy, an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng. Pháp luật an toàn thực phẩm Đảm bảo ATTP luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm vì xuất phát t tầm quan trọng của nó; đảm bảo ATTP trước hết là chăm lo sức khỏe của nhân dân, phát triển kinh tế, an sinh xã hội và phục vụ cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
Đảng và Nhà nước ta thường xuyên chỉ đạo và đưa ra nhiều giải pháp nhằm không ng ng hoàn thiện pháp luật về ATTP, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về ATTP. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật về ATTP đã được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ATTP. Tuy nhiên, nhìn về tổng thể, công tác bảo đảm ATTP vẫn là vấn đề thách thức to lớn ở nước ta. Các giải pháp giải quyết vấn đề này đang được đặt ra rất cấp bách, nhất là việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về ATTP.
Do vậy cần thiết phải có các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, tạo lập trật tự, ổn định xã hội. 9 Pháp luật an toàn thực phẩm là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. Pháp luật về ATTP ở Việt Nam, là một bộ phận trong hệ thống pháp luật hiện hành của nước ta, bao gồm các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc th a nhận, tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ đối với ATTP; phòng ng a, ngăn chặn và khắc phục sự cố về ATTP; thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP; trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP [42]. Như vậy, pháp luật an toàn thực phẩm là toàn bộ các văn bản luật và dưới luật, các Thông tư, Nghị định có liên quan điều chỉnh những vấn đề xã hội phát sinh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.
Luật An toàn thực phẩm đã được Quốc hội thông qua ngày 17/6/2010, có hiệu lực ngày 01/7/2011 là một sự kiện quan trọng thể hiện được quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác bảo đảm ATTP trong tình hình mới, góp phần tích cực vào việc thực hiện thành công sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Luật gồm 11 chương và 72 điều, gồm các nội dung cơ bản sau: quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong đảm bảo thực phẩm; điều kiện đảm bảo an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn, kiểm nghiệm, phân tích nguy cơ đối với thực phẩm; thông tin, giáo dục, truyền thông và trách nhiệm quản lý về an toàn thực phẩm [42]. Theo pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm thì thực phẩm do nhiều bộ, ngành quản lý do đó gặp rất nhiều khó khăn, bất cập trong triển khai thực hiện [56]. Nhưng Luật ATTP quy định có 03 bộ có trách nhiệm quản lý 10 chính gồm Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Bộ Công thương.
Luật quy định rất rõ và cụ thể trách nhiệm của t ng ngành và trách nhiệm quản lý nhà nước của ủy ban nhân dân các cấp [40]. Sau khi Luật An toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành, Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ngành, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, làm cơ sở cho việc tổ chức triển khai thực hiện Luật, như: - Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược Quốc gia an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030 (Quyết định 20/QĐ-TTg ngày 04/01/2012); phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm giai đoạn 2012-2015 (Quyết định 1228/QĐ-TTg ngày 07/9/2012); Chỉ thị 34/CT-TTg ngày 11/12/2014 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo đảm an toàn thực phẩm và phòng chống ngộ độc thực phẩm trong tình hình mới. - Chính phủ ban hành Nghị định 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 về quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn thực phẩm; Nghị định 178/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về ATTP (thay thế Nghị định 91/2012/ NĐ-CP của chính phủ); Nghị định 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng - Bộ Y tế ban hành 46 văn bản quy phạm pháp luật, trong đó đáng chú ý là: Thông tư 15/2012/TT-BYT ngày 12/9/2012, quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Thông tư 26/2012/TT-BYT ngày 30/11/2012, quy định cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, nước khoáng thiên nhiên, nước uống đóng chai; dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế; 11 Thông tư 30/2012/TT-BYT ngày 05/12/2012 quy định về điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh thức ăn đường phố.