Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Chương 2: Ryukyu trong bối cảnh Đông Á thế kỷ XV - XIX. Chương 3: Quan hệ giữa vương quốc Ryukyu với khu vực Đông Bắc Á. Chương 4: Quan hệ của vương quốc Ryukyu với các quốc gia Đông Nam Á.
Chương 5: Một số nhận xét về bang giao và lịch sử của vương quốc Ryukyu với các quốc gia Đông Á. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Do lịch sử phát triển đặc biệt của mình, vương quốc Ryukyu sớm trở thành đề tài nghiên cứu hấp dẫn với nhiều nhà khoa học trên thế giới, đặc biệt là các chuyên gia nghiên cứu về Nhật Bản và quan hệ thương mại châu Á. Tuy vậy, đây vẫn là một đề tài mang tính chất chuyên sâu trong ngành Nhật Bản học do tính chất riêng biệt của lịch sử vương quốc này. Vì vậy, trong những năm 1960-1970, trên một số tạp chí, trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới có một số công trình nghiên cứu liên quan đến Ryukyu.
Tuy vậy, hầu hết các công trình đó vẫn chưa khảo cứu đầy đủ và sâu sắc về nhiều nội dung, vấn đề khoa học trong lịch sử Ryukyu. Các bộ sử và công trình nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, tài liệu viết về Ryukyu và quan hệ bang giao giữa vương quốc Ryukyu với các quốc gia trong khu vực không có nhiều, đặc biệt là tài liệu tiếng Việt. Hầu hết chúng ta chỉ biết đến quần đảo Okinawa (tên hiện nay của Ryukyu) là một tỉnh của Nhật Bản, đã và đang là một căn cứ quân sự của Mỹ. Các học giả Việt Nam chưa dành nhiều sự quan tâm đến Ryukyu, hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào viết về vương quốc này một cách cụ thể.
Trong các bộ chính sử của các triều đại phong kiến Việt Nam như Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục,. Ryukyu không hề được nhắc đến. Tuy nhiên, khi khảo cứu Đại Việt sử ký toàn thư ta thấy, có hai lần Ryukyu (Lưu Cầu) đã được nhắc đến như một quốc gia đã từng xuất hiện trong đời sống chính trị của triều đình Lê Sơ. Đó là sự kiện Ngự sử đài đô sử Quách Hữu Nghiêm tâu sớ vào ngày 25-7-1499 (Mậu Ngọ) [58; tr.17] và lời bàn nhân dịp Mạc Đăng Dung xưng hoàng đế năm Thống Nguyên thứ 6 (1527) [58; tr.
Có thể nói, đối với chính quyền quân chủ Việt Nam, địa danh Lưu Cầu không hoàn toàn là xa lạ, nhưng ít được nhắc tới. Nguyên nhân có thể do mối quan hệ bang giao giữa Đại Việt và Ryukyu không thực sự thường xuyên, không có tác động mạnh mẽ đối với các vấn đề chính trị, xã hội của nước ta thời đó. Thế kỷ XVII, trong văn học Việt Nam nổi lên tác phẩm “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, trong đó có hai câu thơ nổi tiếng: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa?” Cuốn “Tiếng Việt lý thú” của nhà ngôn ngữ học Trịnh Mạnh giải thích về việc sử dụng chữ “Lưu Cầu” mà tác giả Nguyễn Gia Thiều dùng như sau: “đây không chỉ được ưa chuộng tại Nhật Bản mà còn ở nhiều nơi khác ở Á châu. Do Lưu Cầu là một địa danh ở Nhật Bản nổi tiếng với nghề làm kiếm.
Kiếm sản xuất ở đó rất sắc bén và có giá trị buôn bán cao, vì vậy, "Lưu Cầu" được sử dụng theo lối hoán dụ để chỉ thanh kiếm sắc” [66; tr. Như vậy, đến thế kỷ XVIII, Ryukyu đã trở thành một địa danh khá nổi tiếng trong khu vực, nhưng dường như người Việt Nam mới chỉ có những hiểu biết nhất định về mặt hàng vũ khí được buôn bán nổi tiếng của đất nước này. Mặc dù không xuất hiện nhiều trong sử học Việt Nam, nhưng Ryukyu để lại một số dấu ấn trong nền văn học và ngoại giao phong kiến Việt Nam. Những hình ảnh về đất nước và con người vương quốc này xuất hiện trong những bài văn thơ hoặc nhận định của những sứ thần nước ta khi có cơ hội gặp gỡ các sứ thần Ryukyu tại các lưu xá dành cho sứ thần các nước đến triều cống Trung Quốc.
Tác phẩm “Mai Lĩnh sứ Hoa thi tập” của Phùng Khắc Khoan đã có những cái nhìn tương đối cụ thể hơn về văn hoá của Ryukyu trong tương quan so sánh với Việt Nam và quan hệ bang giao hai nước. Tuy nhiên, đó chỉ là những cái nhìn sơ lược, chưa được trình bày thành một nghiên cứu có tính chất tập trung và khoa học mà chỉ rải rác nằm trong tác phẩm văn học này [76; tr. Thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn nổi bật trong lịch sử bang giao của dân tộc như một nhà ngoại giao thông minh và khéo léo, là một trong những người thường xuyên được cử sang triều cống Trung Quốc. Lê Quý Đôn luôn có sự ghi chép cẩn thận và công phu đối với những điều ông thấy từ trong chuyến đi sứ và tiếp sứ của mình.
Trong tác phẩm "Kiến văn tiểu lục”, có hai lần ông nhắc đến Ryukyu. Lần thứ nhất, ông kể lại sự việc sứ thần nước ta là Lê Hữu Kiều đi sứ sang Trung Quốc bắt gặp một bài thơ của sứ thần Ryukyu trên tường (1738), lần thứ hai là nói về việc Lê Quý Đôn đi sứ sang Trung Quốc có hai nho sinh người Ryukyu vào tiếp kiến (1760) [13; tr. Cuộc gặp gỡ đó khiến Lê Quý Đôn có ấn tượng đặc biệt về tinh thần cầu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thị học hỏi và khiêm nhường của con người đất nước này. Tuy nhiên, đó chỉ là những ấn tượng mang tính chất cá nhân và chủ quan của Lê Quý Đôn mà không phải là những ghi chép cụ thể về đất nước Ryukyu, không phải là những nghiên cứu có tính chuyên khảo hoặc thực sự khoa học về vương quốc Ryukyu.
Đầu thế kỷ XX, tác phẩm “Lưu Cầu huyết lệ tân thư” (1903) của nhà yêu nước Phan Bội Châu có nhắc đến việc mất nước bi đát của nhân dân Lưu Cầu (Ryukyu bị Nhật Bản chiếm vào năm 1879). Ryukyu được sử dụng như một bài học về sự mất nước để khuyến cáo và thức tỉnh tinh thần dân tộc của nhân dân ta. Trong tác phẩm đó, Phan Bội Châu cũng chưa cho thấy có sự nghiên cứu cụ thể nào về tình hình kinh tế, chính trị của đất nước này. Đầu năm 1999, cuốn sách “Việt Nam cái nhìn địa - văn hóa” của GS.Trần Quốc Vượng được xuất bản.
Trong đó, có bài viết “Về một dải văn hóa Nam Đảo” (được viết vào năm 1998) của GS.Trần Quốc Vượng đã có sự chú ý đặc biệt đến Ryukyu1 và mối quan hệ giữa Ryukyu và Đại Việt trong khoảng thời gian thế kỷ XIV - XVII trên cơ sở những bộ sưu tập gốm sứ Việt Nam được tìm thấy và lưu giữ tại bảo tàng Okinawa và cảng Naha. Mặc dù chưa đưa ra những nhận xét hoặc phỏng đoán nào về mối quan hệ này, nhưng GS.Trần Quốc Vượng đã nhấn mạnh sự hạn chế trong nghiên cứu về Ryukyu ở Việt Nam: “Lạ một điều, ở hội thảo quốc tế về Hội An (1990) và về Phố Hiến (1993), các học giả Nhật Bản chỉ nói về quan hệ giao lưu văn hóa - kinh tế giữa Hội An, Phố Hiến và cảng thị Nagasaki mà không nói một điều gì về quan hệ Riukyu - Đại Việt. Tuy không phải là kết quả khảo cứu cụ thể về vương quốc Ryukyu và quan hệ bang giao của Ryukyu, nhưng nhận xét của GS.Trần Quốc Vượng cho thấy rõ những khoảng trống trong nghiên cứu về Ryukyu và mối quan hệ Ryukyu - Đại Việt ở cả Việt Nam và Nhật Bản hiện nay. Ý kiến của GS.Trần Quốc Vượng thực sự có giá trị trong việc hệ thống lại các nghiên cứu đã từng quan tâm đến vương quốc Ryukyu ở Việt Nam vào cuối thế kỷ XX.
Tháng 2-2003, Tạp chí Xưa & Nay đã công bố một công trình đáng chú ý của giáo sư Vĩnh Sính: “Một văn thư vương quốc Lưu Cầu gửi sang Việt Nam vào 1 GS.Trần Quốc Vượng sử dụng cách phiên âm “Riukyu” và “Riukyuko” trong bài viết này. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đầu thế kỷ XVI” (Vĩnh Sính giới thiệu và chú giải). Từ một văn bản ngoại giao được lưu giữ trong bộ sử Reikidai hoan, nhà sử học Vĩnh Sính đã có sự phân tích kết hợp với các nguồn tư liệu lịch sử nước ta để chỉ ra rằng: có mối quan hệ nhất định giữa chính quyền Đại Việt và chính quyền Ryukyu vào đầu thế kỷ XVI (1509). Tuy nhiên, nghiên cứu của Vĩnh Sính mới dừng lại ở việc dịch và xác định “có mối quan hệ nào đó” giữa Ryukyu và Đại Việt chứ chưa thực sự đưa ra những kết luận cụ thể về mối quan hệ này.
Tuy vậy, đây là một ý tưởng gợi mở hướng nghiên cứu về quan hệ Ryukyu - Đại Việt. Trong những năm gần đây, Ryukyu được nhắc đến nhiều hơn trong các bài viết, công trình nghiên cứu ở Việt Nam. Đất nước đang thời kỳ mở cửa, con người Việt Nam đang cố gắng tìm tòi để lựa chọn những con đường phát triển phù hợp với khả năng và điều kiện của mình trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc khảo cứu về Ryukyu được coi như một trong những phương thức tìm tòi và lựa chọn bài học từ lịch sử cho Việt Nam hiện nay. Tháng 5-2003, công trình nghiên cứu “Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam Á thế kỷ XV - XVII” của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Kim được xuất bản thành sách, đánh dấu quá trình tìm hiểu về đề tài Ryukyu ở Việt Nam được nâng lên một bước cao hơn.
Trong đó, tác giả đã có sự khảo cứu, phân tích về Ryukyu và quan hệ của Ryukyu với khu vực Đông Nam Á kĩ hơn, xác định rõ hơn về vị trí và vai trò, tác động của “Vương quốc biển” này trong hệ thống thương mại châu Á cùng thời. Dựa vào kết quả nghiên cứu này, năm 2003, Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho xuất bản cuốn sách “Nhật Bản với châu Á - Những mối liên hệ lịch sử và chuyển biến kinh tế - xã hội”. Cuốn sách là tập hợp những công trình nghiên cứu chuyên sâu về Nhật Bản và hệ thống thương mại Biển Đông đã được công bố trên các tạp chí nghiên cứu khoa học của tác giả Nguyễn Văn Kim.