Chương 1: Các nhân tố tác động tới quan hệ Việt Nam-Australia (2009- 2022) Trong chương này làm rõ các nhân tố bên ngoài và bên trong tác động đến quan hệ Việt Nam-Australia trong giai đoạn 2009-2022. Đây là cơ sở thực tiễn để phân tích thực trạng quan hệ Việt Nam-Australia (2009-2022). Chương 2: Diễn tiến quan hệ Việt Nam-Australia (2009-2022) Trong chương này đi sâu làm rõ tiến trình của quan hệ Việt Nam-Australia qua hai giai đoạn là giai đoạn 2009-2017 và giai đoạn 2018-2022. Chương 3: Đánh giá, triển vọng đến năm 2030 và một số khuyến nghị nhằm tăng cường quan hệ Việt Nam-Australia Chương này rút ra một số nhận xét, đánh giá về quan hệ Việt Nam-Australia giai đoạn 2009-2022; dự báo triển vọng triển vọng đến năm 2030 và đề xuất một số khuyến nghị để tăng cường quan hệ hai nước.
CÁC NHÂN TO TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HE VIỆT NAM-AUSTRALIA (2009-2022) Với tư cách là những chủ thé trong quan hệ quốc tế, Việt Nam va Australia đều chịu tác động của các nhân tố bên ngoài và bên trong. Các nhân tố này có thê đóng vai trò tích cực hoặc tiêu cực đối với quá trình vận động, phát triển của mỗi quốc gia, cũng như quan hệ song phương Việt Nam-Australia trong các giai đoạn lịch sử cụ thể. Nhân tố bên ngoài 1. Những biến doi của môi trường quốc tế (2009-2022) Trong giai đoạn 2009-2022, thế giới tiếp tục xuất hiện nhiều nhân tố mới phức tạp, trong đó có cú sốc thế kỷ chưa từng có, gây ra những thách thức lớn trong quan hệ quốc tế.
Tuy nhiên, trong khó khăn luôn tiềm ân cả cơ hội, đòi hỏi các quốc gia nhận thức rõ tình hình, từ đó có chính sách phù hợp để phát triển quan hệ đối ngoại và xây dựng, phát triển đất nước. Thứ nhất, toàn cầu hóa mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng tạo ra không ít thách thức cho quan hệ Việt Nam-Australia. Môi trường hội nhập, mở cửa tạo ra cơ hội dé hai nước trao đôi hàng hóa, đầu tư, giao lưu nhân dân, qua đó gắn kết, vun dap mối quan hệ hữu nghị hợp tác cùng phát triển. Tuy nhiên, dịch Covid-19 bùng phát gây gián đoạn quan hệ song phương bình thường giữa Việt Nam-Australia.
Bên cạnh đó, dịch bệnh cũng làm đứt gãy đột ngột chuỗi cung ứng, một số nước có xu hướng nội địa hóa, liên minh hóa; đây là một trong các nhân tố khiến toàn cầu hóa có phần chững lại. Tuy nhiên về dài hạn, toàn cầu hóa vẫn là tiến trình khó đảo ngược, nhất là khi các nước đều có nhu cầu bức thiết hồi phục và phát triển kinh tế sau đại dịch [Nguyễn Mạnh Hùng, 2021]. Covid-19 thúc day chuyên đổi toàn cầu hóa từ cách thức truyền thống sang những cách thức mới hiện đại hơn dựa trên nền tảng khoa học-công nghệ trên phạm vi toàn cầu. Điều này hứa hẹn những cơ hội bứt phá, đồng thời cũng sẽ đặt ra thách thức mới cho tất cả các nước đang tham gia dòng chảy toàn cầu hóa, trong đó có cả Việt Nam và Australia.
14 Thứ hai, cuộc Cách mang công nghiệp 4.0) tao điều kiện mở ra hướng hợp tác mới trong quan hệ Việt Nam-Australia. Để thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giúp Việt Nam dan bắt kip với các nước phát triển, thì hợp tác với các quốc gia khoa học, công nghệ tiên tiễn như Australia có ý nghĩa quan trọng. Công nghệ là ngành công nghiệp lớn thứ 3 của Australia, đóng góp quan trọng cho nền kinh tế, khoảng 167 tỷ USD cho GDP mỗi năm va tạo ra khoảng 861. Việt Nam có thể tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện dai, hoc tập các kinh nghiệm quản lý, cũng như ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào các lĩnh vực.
Khi dịch Covid-19 bùng phát, nhu cầu hợp tác, chuyên giao công nghệ, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ vào mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội ngày càng trở nên cấp thiết. Việt Nam và Australia có nhiều tiềm năng hợp tác công nghệ trong lĩnh vực năng lượng sạch, nông nghiệp công nghệ cao, ứng dụng chuyên đổi số. Tuy nhiên, CMCN 4.0 cũng đặt ra các thách thức cho Việt Nam như nguy cơ tụt hậu, phụ thuộc nhiều hơn vào các nước phát triển về công nghệ. Thứ ba, mỗi lo ngại về các vẫn đề an ninh toàn cầu thúc đây các quốc gia tăng cường hợp tác dé cùng giải quyết.
Trong giai đoạn này, các thách thức an ninh phi truyền thống nổi lên phức tap. Đại dịch Covid-19 được ví như cú sốc thế kỷ gây thiệt hại nặng nề sinh mạng và kinh tế toàn cầu. Việt Nam và Australia có thời điểm phải tập trung ưu tiên cho công tác phòng chống dịch bệnh ở trong nước; áp dụng các biện pháp phong tỏa, hạn chế đi lại diện rộng và kéo dài làm gián đoạn trao đổi, hợp tác song phương và đa phương ở mức độ nhất định. Ngoài ra, sự khác biệt trong chính sách, biện pháp xử lý khủng hoảng và chống dịch của mỗi nước cũng gây ra cản trở quá trình liên kết, trao đối.
Nhưng nhìn từ góc độ khác, Việt Nam và Australia có chung mong muốn ngăn chặn dịch Covid-19, phục hồi kinh tế hậu đại dịch và cải thiện, nâng cao khả năng ứng phó với các dịch bệnh nguy hiểm khác có thê xảy ra trong tương lai; đây là động lực dé hai nước tiếp tục tăng cường hợp tác. 15 Biến đổi khí hậu là van đề nóng thu hút quan tâm và hợp tác của Việt Nam va Australia. Báo cáo rủi ro toàn cầu năm 2022 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đánh giá khủng hoảng khí hậu là rủi ro lớn nhất của thế giới trong dài hạn (11/01/2022) [World Economic Forum, 2022]. Nhận thức được sự nghiêm trong của van dé này, Việt Nam và Australia có nhiều nỗ lực giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và đều quyết tâm đặt mục tiêu phát thải ròng về 0 vào năm 2050.
Ngoài ra, hai nước có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng mặt trời và điện gió. Dé khai thác hiệu quả tiềm năng và day nhanh quá trình chuyên đổi xanh, Việt Nam cần sự hỗ trợ của Australia để huy động nguồn lực tài chính, kỹ thuật, công nghệ cần thiết. Bên cạnh đó, qua hợp tác hai nước có thể trao đôi, học tập kinh nghiệm ứng phó biến đổi khí hậu của nhau. Lợi ích chung trong chống biến đôi khí hậu là cơ sở để gợi mở các hướng hợp tác mới giữa Việt Nam-Australia trong thời gian tới.
Cùng phối hợp, Việt Nam và Australia có thể ứng phó hiệu quả hơn với tình trạng khí hậu, giảm nhẹ tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, phục hồi và tăng trưởng xanh sau đại dịch Covid-19. Mắt an ninh mạng là nguy cơ Việt Nam và Australia đều phải đối mặt, nhất là khi nhu cầu chuyên đổi số quốc gia ngày càng mạnh mẽ. Theo “Báo cáo rủi ro toàn cầu” (2020, 2021) của WEF, các mối de doa về an ninh mang nằm trong top 5 những rủi ro hiện hữu nhất với toàn cầu. Kể từ khi đại dịch Covid-19 bắt đầu, một số hình thức tấn công mạng thậm chí tăng cao hơn.
Theo thống kê của Nhóm Bảo mật của IBM, năm 2020 khu vực CA-TBD chiếm tới 25% tổng số cuộc tấn công mạng, tăng hơn so với mức 22% của năm 2019. Trong đó, Nhật Bản là quốc gia bị tấn công nhiều nhất ở châu Á (2020), tiếp theo là Ấn Độ và Australia [Hoàng Yến, 2021]. Ở khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là một trong những nước bị tấn công mạng nhiều nhất, Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông dự báo, vào năm 2025, mỗi giây sẽ có 3.000 cuộc tấn công mang và 12 mã độc mới [Minh Anh, 2021]. Đối với Việt Nam và Australia, an ninh mạng là lĩnh vực hai bên có nhu cầu và điều kiện hợp tác nhằm chia sẻ thông tin, trao đôi kỹ năng, kiến thức về an ninh mạng, tiến tới xây dựng hệ thống pháp luật, quy định, tập quán quốc tế trong lĩnh 16 vực an ninh mạng.
Bên cạnh cơ hội về hợp tác quốc tế, hai nước cũng phải đối mặt với không ít thách thức đối với hợp tác trong lĩnh vực an ninh mạng như thiếu cơ sở pháp lý và cơ chế hợp tác, chênh lệch về năng lực, trình độ trong việc bảo đảm an ninh mạng và không gian mạng. Trong khi đó, các thách thức an ninh truyền thống vẫn tiếp tục nhức nhối. Nguy cơ xảy ra chiến tranh nóng, xung đột cục bộ tiếp diễn dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau; xung đột sắc tộc, lãnh thé, tôn giáo vẫn phức tap gây ảnh hưởng nhiều mặt đến tình hình khu vực, quốc tế như nội chiến ở Lybia, Syria, đối đầu giữa An Độ-Pakistan, tranh chấp lãnh thổ An Độ-Trung Quốc, Biển Đông, xung đột Nga-Ukraine. Việt Nam va Australia là các quốc gia luôn ủng hộ luật pháp quốc tế, hai nước có lợi ích chung trong việc phối hợp bảo vệ hòa bình, an ninh ở khu vực và toàn cầu.
Tuy nhiên, trong một số vấn đề quan hệ quốc tế, ví dụ như cạnh tranh nước lớn, xung đột Nga-Ukraine, quan điểm và ứng xử của Việt Nam và Australia khác nhau, đòi hỏi hai bên cần trao đổi, tham vấn dé hiểu nhau hơn. Van dé an ninh biển thu hút quan tâm của nhiều quốc gia. Trong thé kỷ XXI, các quốc gia ngày càng nhận thức rõ biên là không gian phát triển chiến lược. Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống trên biển ngày càng phức tạp, như khủng bó, cướp bién, các hành vi đơn phương vi phạm luật pháp quốc tế trên biển, đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, làm ảnh hưởng đến hòa bình, an ninh biển.
Ở Biển Đông, tuyến giao thông huyết mạch nhộn nhịp thứ 2 trên thế giới [Phạm Bình, 2021], tình hình căng thắng gia tăng khi Trung Quốc xây dựng và quân sự hóa nhiều đảo nhân tạo tại Hoàng Sa, Trường Sa, liên tục cưỡng ép, bắt nạt các nước xung quanh. Biển Đông trở thành vấn đề quốc tế, các nước lớn hiện diện ở Biển Đông thường xuyên hơn cho thấy mối quan tâm ngày càng lớn đến việc duy trì an toàn, an ninh các tuyến giao thương hàng hải; thực thi quyền tự do hàng hải truyền thống; kiềm chế Trung Quốc thiết lập bá quyền ở khu vực. Việt Nam và Australia có lợi ích song trùng về tự do và an ninh hàng hải và trật tự dựa trên luật lệ ở vùng biển ADD-TBD; có chung nhận thức các thách thức an ninh biến là vấn đề mang tính toàn cầu, đòi hỏi phải có sự phối hợp rộng rãi, thiện chí dé tăng cường hợp tác, 17 giảm thiểu những mâu thuẫn và xung đột.