Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐỀN ĐỀ TÀI Có thể nói, vấn đề sở hữu là một phạm trù của khoa học liên ngành, được nghiên cứu trên nhiều phương diện như kinh tế, chính trị, triết học, luật học… Trước kia, vấn đề sở hữu ở các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa nói chung, Việt Nam nói riêng được coi là đã xong xuôi, các công trình nghiên cứu chỉ tập trung vào nghiên cứu, luận giải về tính tất yếu và cần thiết của việc xóa bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất để thiết lập chế độ sở hữu công hữu về tư liệu sản xuất. Từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới (1986) đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, những cuộc hội thảo với quy mô và cấp độ khác nhau đề cập đến vấn đề sở hữu trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Cũng có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về vấn đề sở hữu, đặc biệt là quan niệm về vai trò, vị trí của sở hữu nhà nước trong nền kinh tế quốc dân. Về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài, có thể phân chia thành các nhóm công trình sau đây.
Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề lý luận chung về quan hệ sở hữu 1. Các quan niệm về sở hữu Khi nghiên cứu vấn đề sở hữu, chúng ta thường thấy nổi lên vấn đề cơ bản là các công trình nghiên cứu sử dụng khái niệm sở hữu hay sử dụng khái niệm quan hệ sở hữu, nó làm phạm trù lịch sử hay phạm trù vĩnh viễn. Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sở hữu và việc giải quyết vấn đề sở hữu trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội như thế nào? Trong cuốn Sở hữu và cây đời, tác giả Trần Đức cho rằng: “Trước hết, sở hữu có phải là nhu cầu không…ngay trong giới động vật, người ta nhận thấy có một loại sở hữu cá thể khi loài cầm thú vồ được con mồi hoặc khi nó chiếm được một chỗ trú giữa núi rừng hoang vu; một loại sở hữu gia đình chẳng hạn, khi nó có một cái tổ; một loại sở hữu tập thể chẳng hạn, khi một 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xã hội ong, kiến hoặc mối chiếm lĩnh một tổ ong, một tổ kiến hoặc một tổ mối. Trong xã hội loài người cũng vậy, có những loại sở hữu như trên; sở hữu cá thể, sở hữu tập thể, sở hữu công cộng, và mỗi người đều có một nhu cầu chiếm hữu, nhu cầu này nhằm thỏa mãn bản năng bảo tồn của con người, nói dễ hiểu, là để con người có thể sống được” [38, tr.
Như vậy, theo tác giả, thì sở hữu bắt nguồn từ chiếm hữu, sự chiếm hữu này là bản năng tự nhiên của cả động vật và con người nhằm mục đích sinh tồn. Khái niệm sở hữu được tác giả nhắc đến ở đây là một phạm trù rất rộng, có thể hiểu đơn thuần là sự chiếm hữu của con người với một đối tượng nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Cuốn Vấn đề sở hữu do Nguyễn Thị Luyến chủ biên [75], công trình này xuất bản năm 1991, tập hợp các bài viết chủ yếu của các học giả người Liên Xô, Trung Quốc viết trong giai đoạn 1985 - 1991. Trong công trình này, mặc dù các bài viết không đưa ra khái niệm quan hệ sở hữu là gì, chưa phân tích đầy đủ nội hàm của quan hệ sở hữu, các yếu tố cấu thành của quan hệ sở hữu, nhưng toàn bộ nội dung các bài viết đã xem quan hệ sở hữu là một mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.
Các bài viết cũng phê phán nhận thức cũ, những quan niệm cũ đem quy giản các quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất trong chủ nghĩa xã hội về hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể, trong đó việc xác định các chủ thể sở hữu hết sức trừu tượng, chung chung. Có công trình coi quan hệ sở hữu trước hết là sở hữu tài sản của con người, là quan hệ giữa con người với con người trong chiếm hữu đồ vật, chiếm hữu tài sản và nó xuất hiện cuối thời công xã nguyên thủy. Chẳng hạn trong bài viết Chế độ sở hữu, quan hệ sở hữu và các khu vực kinh tế của Nguyễn Cúc trong cuốn Kỷ yếu hội thảo quốc gia Mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [49], theo tác giả: “Về mặt lịch sử, sở hữu xuất hiện trong xã hội loài người từ khi xuất hiện các quan hệ chiếm hữu đồ vật, chiếm hữu tài sản, chiếm hữu đối với người khác - tức là xuất hiện từ cuối thời công xã nguyên thủy. Cho đến khi xã hội có giai cấp 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển, sở hữu vẫn là các quan hệ trước hết là quan hệ giữa người với các tài sản, đồ vật mà con người chiếm hữu, sau đó là quan hệ giữa người với người trong sự liên quan đến việc chiếm hữu tài sản.
Sở hữu ban đầu là khái niệm pháp lý dùng để chỉ các quan hệ tài sản, sau đó được các nhà kinh tế học sử dụng như một phạm trù kinh tế - chính trị - đó là quan hệ giữa người với người trong tổ chức sản xuất xã hội. Tuy nhiên, cho đến nay, cách hiểu thuật ngữ sở hữu vẫn khác nhau tùy theo quan điểm tiếp cận. Trước khi xem xét bản chất, các yếu tố của sở hữu, chúng ta hãy xem xét vị trí của sở hữu trong lý thuyết kinh tế. Nhiều khi chính từ yếu tố này sẽ quy định sự khác biệt trong lập luận về bản chất và các yếu tố cấu thành của sở hữu” [49, tr.
Ngược lại, tác giả Trần Minh Đạo trong bài Sở hữu trong nền kinh tế thị trường Việt Nam đăng trên Kỷ yếu hội thảo quốc gia Mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cho rằng sở hữu không những là quan hệ sản xuất mà tùy theo góc tiếp cận sở hữu phản ánh cả khía cạnh của lực lượng sản xuất: “Sở hữu không đơn giản chỉ là quan hệ sản xuất, mà tùy vào góc độ tiếp cận mà trong đó sở hữu phản ánh quan hệ sản xuất hay hàm chứa cả khía cạnh của lực lượng sản xuất. Nếu xét riêng về mối quan hệ giữa người và người nhằm xác định ai là chủ thể, xét về mặt pháp lý của đối tượng được sở hữu thì đó là quan hệ sản xuất. Nhưng nếu xét vai trò của sở hữu với việc tạo nguồn lực và sự tác động tới tăng trưởng kinh tế thì sở hữu lại hàm chứa cả yếu tố của lực lượng sản xuất. Trong thời đại kinh tế nông nghiệp việc sở hữu tài nguyên, bao gồm cả số lượng nô lệ là yếu tố trọng yếu nhất có liên quan đến sự phát triển của sức sản xuất và do đó tạo cho người chủ sở hữu các tài nguyên này vị thế làm chủ xã hội.
Trong thời đại kinh tế công nghiệp ai sở hữu các tư liệu sản xuất, các nhà máy thì người đó làm chủ xã hội. Theo logic tương tự, trong thời đại kinh tế tri thức, ai làm chủ tri thức thì người đó làm chủ xã hội. Vì tri thức là yếu tố chủ chốt quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất” [49, tr. Như vậy, sở hữu ở đây được hiểu là quan hệ sở hữu, quan hệ giữa con người với con người trong sở 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hữu đối tượng tư liệu sản xuất, một bộ phận của quan hệ sản xuất.
Có nhiều tác giả khi nói đến sở hữu trước hết là quan hệ giữa con người với các tài sản mà con người chiếm hữu, sau đó mới là quan hệ giữa con người với con người trong sự liên quan đến chiếm hữu. Chẳng hạn trong bài viết Nhận thức về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội ở nước ta của tác giả Nguyễn Cúc: “Về mặt lịch sử, sở hữu xuất hiện trong các xã hội loài người từ khi xuất hiện các quan hệ chiếm hữu đồ vật, chiếm hữu tài sản, chiếm hữu đối với người khác - tức là xuất hiện từ cuối thời công xã nguyên thủy. Cho đến khi xã hội có giai cấp phát triển, sở hữu vẫn là các quan hệ trước hết giữa người với các tài sản, đồ vật mà con người chiếm hữu, sau đó là quan hệ giữa con người trong sự liên quan đến việc chiếm hữu tài sản” [14, tr. Tương tự như tác giả Nguyễn Cúc, tác giả Vũ Hồng Sơn trong bài Góp phần nhận thức về vấn đề sở hữu trong văn kiện đại hội X cho rằng: “Sở hữu là một phạm trù tồn tại vĩnh viễn cùng loại người, nhưng khi nói ai sở hữu và sở hữu cái gì thì lại là vấn đề có tính lịch sử.
Sở hữu được nghiên cứu dưới nhiều giác độ khoa học khác nhau, nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nếu xét ở góc độ triết học thì nó ở vị trí cơ sở hạ tầng, quyết định thượng tầng kiến trúc, trước hết là thượng tầng kiến trúc chính trị [106, tr. Cũng có nhiều công trình quan niệm sở hữu là quan hệ xã hội giữa người với người về việc chiếm hữu tư liệu sản xuất. Trong cuốn Tác động của quá trình đổi mới sở hữu đến sự phát triển của lực lượng sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay [47] của Nguyễn Thị Hoài và Nguyễn Đức Luận, theo các tác giả, sở hữu là quan hệ giữa con người với con người trong việc sở hữu tư liệu sản xuất, sở hữu ở đây được hiểu là một mặt của quan hệ sản xuất: “Sở hữu là quan hệ giữa người với người đối với việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và thông qua quan hệ ấy, con người thực hiện lợi ích, thỏa mãn nhu cầu của mình”[47, tr.
Cũng trong công trình này, các tác giả trình bày các nội dung liên quan đến khái niệm sở hữu bao gồm: chủ thể sở hữu, đối tượng sở hữu, hệ thống các quyền của sở hữu, hình thức sở hữu, chế độ sở 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bài viết Quan hệ sở hữu: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [93] của tác giả Hồ Tấn Phong: Sở hữu là quan hệ xã hội giữa người với người về việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải xã hội.