phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng, 8 tiết. Chƣơng 1: Quan điểm quốc tế về quan hệ với các nƣớc láng giềng trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Chƣơng 2: Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng quan điểm quốc tế của Hồ Chí Minh trong đối ngoại với Lào thời kỳ đổi mới 1986-2012. Chƣơng 3: Đánh giá về sự vận dụng quan điểm quốc tế của Hồ Chí Minh với Lào của Đảng Cộng sản Việt Nam.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: QUAN ĐIỂM QUỐC TẾ VỀ QUAN HỆ VỚI CÁC NƢỚC LÁNG GIỀNG TRONG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH 1. Một số vấn đề chung. Một số khái niệm cơ bản. Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Khi đề cập đến khái niệm tƣ tƣởng không nên hiểu chỉ là một tập hợp từ đơn giản những ý tƣởng, những suy nghĩ cụ thể trong hoàn cảnh cụ thể, mà chúng ta muốn nói đến một hàm nghĩa lớn, một hệ thống quan điểm, lý luận mang giá trị nhƣ một học thuyết đƣợc xây dựng trên một thế giới quan và phƣơng pháp luận, đại biểu cho ý chí nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, phù hợp với nhu cầu của thực tiễn nhất định, trở lại chỉ đạo và cải tạo thực tiễn đó. Khái niệm tƣ tƣởng Hồ Chí Minh cần đƣợc hiểu nhƣ vậy. Khái niệm tƣ tƣởng Hồ Chí Minh đƣợc xem nhƣ là chìa khóa để mở cửa đi vào kho tàng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh có một quá trình hình thành và phát triển từ trƣớc năm 1911 đến khi Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta.
Đảng ta có một quá trình phát triển nhận thức về tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội IX (4-2001), Đảng ta có bƣớc phát triển trong nhận thức và tƣ duy lý luận khi khẳng định: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu nhân loại"2. Đó là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là tƣ tƣởng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân 2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự, ngoại giao.
Đó là tƣ tƣởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con ngƣời; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tƣ về chăm lo bồi dƣỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, về cán bộ, đảng viên. Khái niệm "ngoại giao". Khái niệm "ngoại giao" có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về khái niệm ngoại giao nó đƣợc thể hiện thông qua những luận điểm sau Đầu tiên có quan điểm cho rằng: Ngoại là ngoài, giao là giao tiếp; vậy giao tiếp với nƣớc ngoài gọi là đối ngoại. Ngoại giao góp phần quan trọng trong vấn đề giữ nƣớc hoặc mất nƣớc.
Vì thế ngoại giao giỏi thì họ tôn trọng mình, giúp đỡ mình còn không thì ngƣợc lại. Có ý kiến khác lại cho rằng: Ngoại giao là một nghệ thuật tiến hành trong việc đàm phán, dàn xếp, thƣơng lƣợng giữa những ngƣời đại diện cho một nhóm hay một quốc gia. Thuật ngữ này thông thƣờng đề cập đến ngoại giao quốc tế thông qua việc hoà giải hay can thiệp của các nhà ngoại giao liên quan đến vấn đề nhƣ kinh tế, thƣơng mại, du lịch, văn hoá, chiến tranh, kiến tạo hoà bình… các hiệp ƣớc quốc tế thƣờng đƣợc đàm phán bởi các nhà ngoại giao trƣớc tiên để đi đến việc xác nhận chính thức bởi các chính trị gia của các nƣớc. Đối ngoại là những hoạt động nhằm tạo điệu kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp bảo vê và xây dựng đất nƣớc, đồng thời góp phần vào sự nghiệp hòa bình hữu nghị và hợp tác trên thế giới.
Nhiệm vụ đối ngoại là ra sức kết hợp sức mạnh của đất nƣớc với sức mạnh của thời đại, tranh thủ tối đa những điều kiện quốc tế thuận lợi để thực hiện mục tiêu từng giai đoạn. Quan hệ quốc tế. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com "Quan hệ quốc tế" là thuật ngữ để chỉ một dạng đặc thù của quan hệ xã hội. Quan hệ quốc tế bao gồm quan hệ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học giữa các quốc gia - dân tộc và các tổ chức chính trị xã hội khác nhau và các cá nhân cụ thể3.
Khái niệm quốc tế Quốc tế nghĩa là ngƣời trong thế giới bất kỳ nƣớc nào, có mục đích nhƣ nhau, hợp sức nhau để làm cho đến mục đích đấy nhƣ các đế quốc chủ nghĩa lien lạc với nhau để đè nén các dân tộc hèn yếu. Láng giềng: Theo Từ điển tiếng Việt, Nxb Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn, 1992, "Láng giềng là ngƣời ở ngay cạnh nhà, đồng thời nƣớc ở ngay bên cạnh gọi là nƣớc láng giềng, nghĩa là các nƣớc này ở cạnh nhau về vị trí địa lý và có quan hệ ngoại giao với nhau". Quan điểm quốc tế. Theo Từ điển tiếng Việt, định nghĩa về quan điểm có hai cách: thứ nhất, quan điểm xuất phát quy định phƣơng hƣớng, suy nghĩ, cách xem xét và hiểu các hiện tƣợng, các vấn đề; thứ hai, cách nhìn, cách suy nghĩ, ý kiến, trình bày quan điểm về vấn đề nêu ra.
Tuy Từ điển trên chƣa đề cập một cách cụ thể đến quan điểm quốc tế, song theo tác giả thì quan điểm quốc tế thực chất là cách nhìn, cách suy nghĩ về quốc tế, về các nƣớc trên thế giới. Có thể đó là quan điểm của một giai cấp, nhà nƣớc, một đảng phải, một cộng đồng, thậm chí của một cá nhân cụ thể. Quan điểm quốc tế trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh là quan điểm của chính Ngƣời về quốc tế, đã đƣợc Ngƣời nhìn nhận thông qua quan hệ đối ngoại với các nƣớc trên thế giới, trong đó có các nƣớc láng giềng. Ngƣời đã đi vào cõi vĩnh hằng, nhƣng di sản mà Ngƣời để lại còn hiện hữu mãi với thời gian.
Đảng 3 Giáo trình chính sách đối ngoại Việt Nam (2006), Đại học Dân lập Đông đô,Hà Nội, tr. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và Nhà nƣớc ta đã và đang đƣa những lý luận mà Ngƣời để lại vào việc hoạch định chính sách cho đất nƣớc để phù hợp với tình hình mới. Khái quát quá trình hình thành và nội dung cơ bản trong quan điểm quốc tế Hồ Chí Minh. *Hội liên hiệp thuộc địa.
Với truyền thống bất khuất, ở nhiều nƣớc châu Á và Đông Nam Á, các nhà yêu nƣớc ƣu tú của các dân tộc đã liên tiếp đứng lên đấu tranh, không ngừng tìm đƣờng cứu nƣớc giải phóng dân tộc, thoát khỏi ách đô hộ của nƣớc ngoài. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những ngƣời ƣu tú đó. Nhƣng con đƣờng cứu nƣớc đƣa Ngƣời lựa chọn khác hẳn với các bậc tiền bối trƣớc đó cũng nhƣ đƣơng thời. Tƣ duy chính trị chính xác đó đã theo Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt những năm tháng bôn ba tìm đƣờng cứu nƣớc, để rồi Ngƣời đã tìm ra đƣợc chân lý và đƣa ra kết luận lịch sử: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”4.
Đó là sự khẳng định rõ ràng: dân tộc Việt Nam tất yếu phải đi theo con đƣờng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trên hành trình tìm đƣờng cứu nƣớc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vƣợt qua ba đại dƣơng, bốn châu lục, đặt chân lên khoảng 30 nƣớc, là một trong những nhà hoạt động chính trị đi nhiều nhất, có vốn hiểu biết phong phú về thực tế các nƣớc thuộc địa, cũng nhƣ các nƣớc tƣ bản đế quốc chủ yếu đƣơng thời. Nhờ đó, Ngƣời đã hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc, thực dân; trình độ phát triển, đặc điểm lịch sử, văn hóa của nhiều nƣớc thuộc địa; hiểu đƣợc những nỗi khổ chung của các dân tộc bị áp bức, của nhân dân các nƣớc thuộc địa và nhu cầu đấu tranh giải phóng của họ. Những tƣ tƣởng cách mạng mang tính vạch thời đại trong bản Luận cƣơng của V.Lênin đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh nhanh chóng lĩnh hội.
Ngƣời đã nắm bắt đƣợc "cái thần" của tƣ tƣởng này và khẳng định: "Đây là cái cần thiết cho 4 Hồ Chí Minh ( 2000), Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H, tr. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chúng ta, đây là con đƣờng giải phóng chúng ta"5. Ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu sắc sức mạnh có ý nghĩa quyết định của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là sự đoàn kết, đoàn kết quốc tế của nhân dân các dân tộc bị áp bức. Vào năm 1924, Ngƣời đã khẳng định: Vì tự do và ấm no, những ngƣời bị áp bức bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại và chống bọn áp bức" bởi "dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống ngƣời: giống ngƣời bóc lột và giống ngƣời bị bóc lột.
Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản. Năm 1921, Ngƣời sáng lập ra Hội liên hiệp thuộc địa. Trong lời kêu gọi thành lập hội, bản Tuyên ngôn của Hội đã kêu gọi: Hỡi các bạn thân yêu, muốn xua tan những đau khổ cần phải đoàn kết các dân tộc bị áp bức và toàn thể công nhân trên thế giới để làm cách mạng. Bọn đế quốc ở tất cả các nƣớc đã liên minh lại để áp bức chúng ta, còn chúng ta, những ngƣời dân thuộc địa và toàn thể công nhân trên thế giới, chúng ta phải hợp lực lại để chống lại chúng.
* Bản án chế độ thực dân Pháp.