mở đầu cho quan hệ căng thắng giữa Nga và Ucraina. Chơng 2: Thực trạng quan hệ Nga - Ucraina giai đoạn 2014 - 2020: Trong giai đoạn từ năm 2014 - 2020, Nga và Ucraina đã ngừng hoặc hủy bỏ hầu hết các lĩnh vực, phơng diện hợp tác song phơng giữa hai nớc, từ chính trị - ngoại giao, kinh tế đến an ninh - quốc phòng. Về chính trị - ngoại giao, hai nớc triển khai chính sách đối ngoại thù địch, hủy bỏ hầu hết các hiệp định, thỏa thuận liên kết, hợp tác về chính trị song phơng và đa phơng, trừng phạt và cắm nhập cảnh đối với nhiều quan chức cấp cao của nhau, sử dụng các điễn đàn quốc tế và khu vực đề tô 11 cáo lẫn nhau. Về kinh tế, hai bên đều rút khỏi các cơ chế hợp tác kinh tế, đa ra các lệnh trừng phạt và trả đũa lẫn nhau khiến nền kinh tế hai nớc phải gánh chịu nhiều ton thất nặng nề, đặc biệt là phía Ucraina.
Về an ninh - quốc phòng, hai nớc thé hiện chính sách đối đầu căng thẳng, xung đột gay gắt và tiềm ân nhiều nguy cơ có thể dẫn đến bòng phát chiến tranh toàn diện giữa hai nớc. Chơng 3: Tác động, dự báo triển vọng quan hệ Nga - Ucraina và một số khuyến nghị cho Việt Nam: Những căng thẳng, diễn biến phức tạp trong quan hệ giữa Nga và Ucraina trong giai đoạn khủng hoảng từ năm 2014 đến 2020 nói riêng và giữa Nga với Mỹ, phơng Tây nói chung đã, đang và sẽ tạo ra những tác động, ảnh hởng nhiều chiều đến tình hình thế giới và khu vực. Thời gian tới, quan hệ Nga - Ueraina nhiều khả năng sẽ tiếp tục điễn biến phức tạp, biến động lên xuống kéo dài và cha sớm có giải pháp mang tính đột phá. Quan hệ Nga - Ucraina trong bối cảnh khủng hoảng cũng tác động, ảnh hởng đến việc triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam.
NHU'NG NHAN TO TAC DONG DEN QUAN HE NGA - UCRAINA 1. Lịch sử quan hệ Nga - Ucraina trojéc nam 2014 Nga và Ucraina là hai quốc gia có mối quan hệ lịch sử gần gũi, gắn kết từ lâu đời. Quốc gia cô xa Rus' Kiev với kinh đô Kiev là quốc gia thủy tổ, nơi phát tích của cả hai nhà nớc Nga và Ucraina ngày nay. Trong khoảng gần bốn thế kỷ, từ giữa thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XX, Ucraina luôn nằm trong vùng ảnh hởng của Nga, trong đó có thời kỳ (từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX), Ucraina bị Sa hoàng Nga thôn tính.
Thời kỳ Liên Xô, thang loi cua Dang Cong san Nga do Vladimir Ilyich Lenin đứng đầu vào năm 1917 cùng với sự sụp đồ của Đề quốc Nga trong Chiến tranh thé giới thứ nhất là những yếu tố góp phần quan trọng vào sự hình thành nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên bang Xô viết, gọi tắt là Liên Xô, bao gồm các nớc gắn kết với nhau dựa trên nền tảng ý thức hệ chung là Chủ nghĩa Cộng sản. Trong 15 nớc thuộc Liên Xô, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Ucraina là hai quốc gia lớn nhất, có mối liên kết và gắn bó rất chặt chẽ, trong đó chính nhờ sự giúp đỡ của Xô viết Liên bang Nga mà Cách mạng Ucraina đã đi đến thắng lợi và thành lập đợc nhà nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Ucraina. Đối với Xô viết Liên bang Nga, Xô viết Ucraina là quốc gia có vai trò, vị trí đặc biệt quan trong do (i) sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản giàu có, là nguồn cung cho Liên Xô các sản phâm nông nghiệp, năng lợng và nguyên liệu phục vụ nhiều ngành công nghiệp, nhất là những ngành liên quan nang long; (ii) co dong bờ biển dài ở Biển Đen, giúp Nga mở cửa với Trung - Nam Âu qua đờng biên đến các vùng biển nóng, nhất là qua cảng Sevastopol nằm trên bán đảo Crm; (ii) là một trong các thành viên sáng lập Liên hợp quốc năm 1945 song Xô viết Ucraina không có tiếng nói độc lập trong các vẫn đề quốc tế do chính sách đối ngoại hoàn toàn bị Liên Xô ch¡ phối. Theo đó, trong suốt 45 năm cho đến khi Liên bang Xô Viết tan rã, nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Ucraina đã luôn đa ra các quyết định có lợi cho Liên Xô trong mọi vẫn đề tại Liên hợp quốc.
13 Sau khi Liên Xô tan rã, Xô viết Ucraina đổi tên thành Ucraina vào ngày 24 tháng 8 năm 1991, tách khỏi Liên Xô và trở thành quốc gia độc lập. Sau sự tan rã của Liên Xô và sự hình thành của một loạt quốc gia mới với chính sách đối ngoại độc lập, Nga đã nhanh chóng thành lập CIS nhằm tiếp tục duy trì và bảo vệ ảnh hong cua minh tai khu vực Á - Âu, với giai đoạn cao trào lên đến 12/15 nớc thuộc Liên Xô trở thành thành viên của tô chức này. Trong số các thành viên CIS, Ucraina có ý nghĩa hết sức quan trọng với Nga, vừa có mối liên hệ sắc tộc, ngôn ngữ và tôn giáo chặt chẽ ton tại suốt trong lịch sử hai nớc, vừa là quốc gia có vị trí địa chính trị chiến lợc đặc biệt và sở hữu hệ thống đờng ống trung chuyển dầu khí từ Nga sang châu Âu, là vòng đệm chiến lợc giữa Nga với EU, NATO. Tuy nhiên, giới chức lãnh đạo Ucraina bấy giờ lại có xu hớng xa rời và từ chối là thành viên đầy đủ của CIS, trong khi lại toan tính thúc đây tiến trình hội nhập phơng Tây khi ký kết Hiệp định đối tác và hợp tác với EU (10/1992) và thông qua Sắc lệnh về “Chiến lợc gia nhập Liên minh châu Au” (1998).
Dé thé hiện rõ xu hong độc lập với Nga, Ucraina đã bày tỏ sự ủng hộ cho cuộc chiến chống khủng bố quốc tế do Mỹ dẫn đầu, độc lập tìm kiếm các giải pháp cho một số cuộc xung đột, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tai Liban, Tajikistan, Kosovo, Bosnia-Herzegovina, Ethiopia, Eritrea, Afghanistan va Pakistan. Sau chién thing tai cudc bầu cử ở Ucraina (02/2010), Tổng thống Viktor Yanukovych dò đợc cho là “thân Nga” song vẫn tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại theo hớng xích lại gần EU và ngày càng độc lập với Nga. Trong nhiệm kỳ của mình, Tổng thống Yanukovych đã hớng lái để Ucraina ký thỏa thuận liên kết với EU và nỗ lực cản trở những tham vọng của giới doanh nghiệp Nga đối với Ucraina, chống lại tham vọng thâu tóm nền kinh tế Ucraina của giới lãnh đạo Nga. Tuy nhiên, vào thời khắc cuối còng tại Hội nghị thợng đỉnh Đối tác phía Đông (Litva, 11/2013), Tổng thống Yanukovych đã bắt ngờ thay đổi và từ chối ký thỏa thuận liên kết giữa Ucraina với EU.
Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến cuộc cách mạng tại Quảng trờng Độc lập và những diễn biến phức tạp tại Ucraina, trong đó có việc Tổng thống Yanukovych bị lật đỗ vào ngày 22/2/2014. Sau biến có này, Ucraina càng thể hiện mạnh mẽ hơn quyết tâm thoát khỏi sự ảnh hởng của Nga, hong toi mục tiêu gia nhập EU [Thông tấn xã Việt Nam, 2015]. Các nhân tố tác động đến quan hệ Nga - Ucraina 1. Bối cảnh quốc tế, khu vực Cục điện quan hệ quốc lẾ có sự thay đổi to lớn, theo đó trật tự hai cực từng duy trì trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh đã thay đổi sau khi Liên Xô tan rã vào nam 1991.
Mặc dù kế thừa Liên Xô, song nớc Nga những năm đầu giành độc lập vẫn gặp nhiều khó khăn trên con đờng phát triển, củng cố vai trò và khẳng định vị thế quốc tế của mình. Trong khi đó, Mỹ đã vơn lên trở thành cờng quốc số một, không ngừng cạnh tranh, tăng cờng vai trò ảnh hong tại các khu vực trớc đây từng là địa bàn ảnh hởng truyền thống của Nga, nhất là tại Đông Âu, dẫn đến tình hình chính trị - an ninh tại các khu vực này thờng xuyên diễn biến phức tạp, tiềm ân nguy cơ xung đột và bat ôn, đe đọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia của Nga. Trong suốt gần 3 thập kỷ từ năm 1991 đến nay, Mỹ và phơng Tây đã lôi kéo đợc 14 nóc Đông Âu (trong đó có Ba Lan, Cộng hòa Séc, Slovakia, Hungarl, Rumami, Bungarl.), 3 nớc Baltic (Estonia, Latvia, Litva) và Gruz1a (Trung Á) xa rời Nga và liên kết chặt chẽ với Mỹ, EU. Bên cạnh đó, sự can thiệp của Mỹ và phơng Tây đã dẫn đến các cuộc cách mạng màu ở Đông Âu, cách mạng Mùa xuân ở A-rap, lam bong phát các cuộc xung đột vũ trang ở nhiều nớc khu vực Trung Đông - Bắc Phi, đẩy dòng ngời ty nạn sang châu Âu trong bối cảnh tô chức khủng bố “Nhà nớc Hồi giáo” (IS) dang bong phat va lan truyền t tởng cực đoan, hoạt động khủng bố đến châu Âu [Bộ Quốc phòng, 2020a].
đã đây EU rơi vào cuộc khủng hoảng nhập c, an ninh bị đe dọa nghiêm trọng và trở nên phân hóa sâu sắc về việc triển khai các biện pháp đối phó. Ngoài ra, sự xoay trục của Mỹ sang châu Á - Thái Bình Dong và sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng tạo ra những tác động đa chiều, phức tạp đến tình hình quốc tế và khu vực. Tại Đông Âu, sau khi Liên Xô tan rã, hầu hết các nớc cộng hòa mới thành lập đều bộc lộ xu hớng dần hội nhập vào EU, kế cả Nga. Tuy nhiên, do tiễn trình hội nhập phơng Tây gặp phải nhiều khó khăn trong việc thay đổi thể chế chính quyền, các yêu cầu về dân chủ, nhân quyền.
nên hầu hết các quốc gia này đã trở lại liên kết với nhau trong CIS do Nga là hạt nhân. Nga thờng xuyên thông qua các 15 công cụ nh cung cấp vốn đầu t, tín dụng và các hợp đồng kinh tế có lợi, đầu khí với giá rẻ và nhiều u đãi cho các nớc Đông Âu. Trong giai đoạn này, CIS đã trở thành một tổ chức quan trọng, hỗ trợ địa vị nớc lớn và giúp gia tăng vai trò ảnh hởng của Nga. Việc làm sâu sắc thêm mối quan hệ với các nớc này thông qua các công cụ kinh tế đã và tiếp tục là phơng hớng u tiên lâu dài của Nga.
Tuy nhiên, sau một thời gian Nga triển khai kế hoạch, một số nớc thành viên CIS bày tỏ quan ngại về khả năng Nga sẽ gia tăng áp lực chính trị, kinh tế, quân sự nhằm can thiệp, kiềm chế các nớc này theo ý đồ của Nga. Nhiều nớc đã nảy sinh mong muốn tìm kiếm, thúc đây đa phơng hóa quan hệ để giảm dần sự phụ thuộc tuyệt đối vào Nga.