Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Sử học với đề tài "Quan hệ hợp tác giữa tỉnh Quảng Nam (CHXHCN Việt Nam) với tỉnh Sê Kông (CHDCND Lào) từ năm 1997 đến năm 2015" do nghiên cứu sinh Lê Minh Đức thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2022, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số 9229013), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thị Thu Hương và TS Phạm Văn Hồ.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, quan hệ giữa Việt Nam và Lào là mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt được hình thành và thử thách qua tiến trình lịch sử với hơn 2.000 km đường biên giới chung. Tỉnh Quảng Nam và tỉnh Sê Kông có chung đường biên giới trên bộ dài 157,422 km, có nhiều nét tương đồng về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử, văn hóa và kinh tế - xã hội. Sau năm 1975, quan hệ giữa hai nước nói chung và giữa hai tỉnh nói riêng chuyển từ trọng tâm liên minh chiến đấu sang hợp tác toàn diện. Đặc biệt từ năm 1997, khi tỉnh Quảng Nam được tái lập, quan hệ hợp tác song phương bước vào thời kỳ mới gắn liền với công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Mặc dù mối quan hệ Việt Nam – Lào đã được tiếp cận ở nhiều cấp độ, song việc nghiên cứu quan hệ giữa tỉnh Quảng Nam và tỉnh Sê Kông từ năm 1997 đến năm 2015 trước đó chỉ dừng lại ở các báo cáo hành chính hoặc bài viết phân tích đơn lẻ theo sự kiện, thiếu một công trình chuyên khảo lịch sử mang tính toàn diện và hệ thống.
Mục đích nghiên cứu của luận án là tái hiện và phân tích quá trình thực hiện quan hệ hợp tác giữa tỉnh Quảng Nam với tỉnh Sê Kông từ năm 1997 đến năm 2015, qua đó tổng kết thực tiễn quan hệ đối ngoại giữa hai nước Việt Nam – Lào ở cấp độ địa phương và cung cấp cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu quả hợp tác song phương trong giai đoạn tiếp theo. Để đạt được mục đích đó, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
- Làm rõ những yếu tố tác động tới quan hệ hợp tác giữa tỉnh Quảng Nam với tỉnh Sê Kông từ khi tái lập tỉnh đến năm 2015.
- Tái hiện quá trình thực hiện quan hệ hợp tác giữa tỉnh Quảng Nam với tỉnh Sê Kông từ năm 1997 đến năm 2015 trên các lĩnh vực cụ thể.
- Đánh giá những thành tựu nổi bật và hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh.
- Rút ra một số đặc điểm và bài học kinh nghiệm từ thực tiễn quan hệ hợp tác giữa tỉnh Quảng Nam với tỉnh Sê Kông.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định rõ ràng:
- Đối tượng nghiên cứu: Lịch sử quan hệ hợp tác giữa tỉnh Quảng Nam (Việt Nam) với tỉnh Sê Kông (Lào) từ năm 1997 đến năm 2015.
- Phạm vi không gian: Không gian lãnh thổ tỉnh Quảng Nam (CHXHCN Việt Nam) và tỉnh Sê Kông (CHDCND Lào), trọng tâm là khu vực biên giới tiếp giáp giữa hai địa phương.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1997 (thời điểm tái lập tỉnh Quảng Nam) đến năm 2015, được phân kỳ thành hai giai đoạn: 1997–2005 (giai đoạn đầu sau tái lập tỉnh) và 2006–2015 (giai đoạn đẩy mạnh hợp tác toàn diện).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các hoạt động hợp tác trên các lĩnh vực: chính trị, đối ngoại; quốc phòng, an ninh và công tác biên giới; kinh tế (thương mại, đầu tư xây dựng, nông - lâm nghiệp, du lịch); giáo dục - đào tạo; văn hóa, thông tin, y tế; công tác kết nghĩa và phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể địa phương.
| Tiêu chí |
Nội dung xác định trong luận án |
| Tên đề tài |
Quan hệ hợp tác giữa tỉnh Quảng Nam (CHXHCN Việt Nam) với tỉnh Sê Kông (CHDCND Lào) từ năm 1997 đến năm 2015 |
| Tác giả & Người hướng dẫn |
NCS Lê Minh Đức; PGS.TS Trần Thị Thu Hương, TS Phạm Văn Hồ |
| Cơ sở đào tạo & Năm bảo vệ |
Học viện Khoa học Xã hội (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam), 2022 |
| Chuyên ngành & Mã số |
Lịch sử Việt Nam; Mã số: 9229013 |
| Độ dài đường biên giới chung |
157,422 km |
| Địa bàn giáp ranh chính |
Huyện Nam Giang, Tây Giang (Quảng Nam) – Huyện Đắc Chưng, Kà Lừm (Sê Kông) |
| Cửa khẩu trọng điểm |
Cửa khẩu Nam Giang – Đắc Tà Ọoc (nối Quốc lộ 14D với Quốc lộ 16B) |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả tiến hành khảo sát và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài thành ba nhóm chính:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.
Nhóm này gồm các công trình nghiên cứu lịch sử, chính trị cấp quốc gia như: Kỷ yếu Hội thảo quốc tế do Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì (2007) với các bài viết của Đại sứ CHDCND Lào tại Việt Nam, Vũ Xuân Hồng, Lê Công Phụng; Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội quốc gia Lào (2007); công trình sưu tầm của Nguyễn Văn Khoan (2008); tập sách của Vũ Dương Huân (2009); các kỷ yếu hội thảo quốc tế năm 2010 về khu kháng chiến Tây Bắc Lào và chiến dịch Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng với các nghiên cứu của Trịnh Nhu. Đặc biệt là bộ công trình 6 sản phẩm "Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào; Lào - Việt Nam (1930 - 2007)" do Bộ Chính trị hai Đảng chỉ đạo biên soạn (2011), cuốn "Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào (1930 – 2017)" của Ban Tuyên giáo Trung ương (2017), cuốn sách của Lê Đình Chỉnh (2017), các bài viết của Nguyễn Xuân Thắng (2017, 2021), luận án tiến sĩ của Nguyễn Viết Xuân (2021), cùng các bài nghiên cứu của Nguyễn Phú Trọng (2012), Chummaly XayNhaXỏn (2012), Sủnthon Xaynhachắc (2010), Đinh Quang Hải (2017).
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu quan hệ song phương theo từng lĩnh vực và tại các địa phương khác.
- Về quốc phòng, an ninh: Các bài viết của Lê Đình Chỉnh (2002), Nguyễn Hồng Thao (2006), Vi Lay Đuông Mạ Ni (2007), Trịnh Vương Hồng (2007), Trần Xuân Hiệp (2010), Nguyễn Chí Vịnh (2012), Nguyễn Mạnh Hà (2012), Đỗ Thị Ánh (2013), Trần Thị Thu Hương (2014) và luận án tiến sĩ của Cáp Văn Đang (2022).
- Về kinh tế, ngoại giao: Các nghiên cứu của Vũ Dương Huân (2007), Xổmphon Xỉchalơn (2012), Trương Duy Hòa (2018), Kim Ngọc (2012), Đỗ Thị Ánh (2015), Sủnthon Xaynhachắc (2011), Nguyễn Duy Dũng (2012), Lê Xuân Cương (2015).
- Về giáo dục - đào tạo: Công trình của KiKẹo Khảy KhămPhiThun (2011, 2015), Lê Hữu Nghĩa (2011), Nguyễn Thiện Nhân (2011), Tạ Ngọc Tấn (2012), Trần Quang Quý (2012), Đinh Ngọc Giang và Lê Thị Minh Hà (2015).
- Về quan hệ cấp địa phương: Luận án tiến sĩ của Bùi Văn Hào (2011) về quan hệ giữa Nghệ An, Hà Tĩnh với các tỉnh Trung Lào; luận án của Nguyễn Trọng Tứ (2013) về Hà Tĩnh với Bôlykhămxay và Khăm Muộn; các nghiên cứu của Nguyễn Công Soái (Hà Nội - Viêng Chăn), Nguyễn Thế Trung (Nghệ An - các tỉnh giáp biên Lào), Trịnh Long Biên (Điện Biên - Bắc Lào), cùng các bài viết của Phạm Quang Nghị, Chu Văn Đạt, Vũ Hoàng Hà, Nguyễn Văn Lợi, Y Vêng (Kon Tum - Áttapư, Sê Kông), Ngô Đức Vượng, Nguyễn Viết Nên, Nguyễn Công Khanh và Trần Hải Định (2011), Bùi Văn Hào (2013), Nguyễn Viết Xuân.
Nhóm 3: Các công trình liên quan trực tiếp đến quan hệ giữa tỉnh Quảng Nam và tỉnh Sê Kông.
Bao gồm các tài liệu lịch sử địa phương như "Lịch sử Đảng bộ huyện Nam Giang (1945 – 1975)" (2004) và giai đoạn 1975–2005 (2009); "Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Quảng Nam (1975 – 2005)" (2008); "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (1975 – 1996)" (2005); luận án tiến sĩ kinh tế của Pheng Sy Sylavy (2012) về doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Sê Kông; bài viết của Nguyễn Đức Hải (2011) về quan hệ Quảng Nam – Sê Kông trong sách tài liệu của Trung ương; cùng các báo cáo, bài viết trên báo chí về hoạt động cắm mốc biên giới và hỗ trợ phát triển kinh tế.
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình đi trước đã cung cấp nền tảng tư liệu quan trọng, nhưng mối quan hệ giữa Quảng Nam và Sê Kông từ năm 1997 đến năm 2015 chưa từng được nghiên cứu một cách độc lập, có hệ thống và đầy đủ theo tiến trình thời gian dưới góc độ của khoa học Lịch sử. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết và phương pháp luận, luận án dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế và tinh thần quốc tế vô sản trong sáng ("giúp bạn là tự giúp mình"). Đồng thời, luận án quán triệt các quan điểm, đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong thời kỳ đổi mới; các chủ trương hợp tác chiến lược được ghi nhận trong Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam – Lào (ký ngày 18/7/1977), Hiệp định về Quy chế biên giới quốc gia (ký ngày 01/3/1990), cùng các hiệp định, thỏa thuận hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật giữa hai Chính phủ.
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án là công trình nghiên cứu lịch sử theo hướng định tính, sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện các sự kiện, quá trình hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Nam và Sê Kông theo đúng trình tự thời gian và bối cảnh cụ thể từ năm 1997 đến năm 2015.
- Phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp bản chất, quy luật vận động, mối liên hệ nhân quả giữa các giai đoạn và các lĩnh vực hợp tác nhằm rút ra các đặc điểm và bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích - tổng hợp tư liệu, phương pháp so sánh lịch sử (đối chiếu giữa các thời kỳ và giữa các địa phương biên giới khác) và phương pháp khảo sát thực tiễn tại địa bàn các huyện vùng biên giới của hai tỉnh.
Về nguồn tư liệu, luận án khai thác hệ thống văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; các văn bản thỏa thuận, hiệp định giữa hai Nhà nước; văn kiện các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (từ Đại hội XVIII năm 1997, giai đoạn 2000–2005, 2006–2010, 2010–2015); các báo cáo tổng kết đối ngoại định kỳ của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Quảng Nam; báo cáo chuyên đề của các sở, ban, ngành, lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam; tài liệu lịch sử của huyện Nam Giang, Tây Giang; tư liệu thực địa và các bài nghiên cứu chuyên ngành đã công bố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này thực hiện việc hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ hợp tác Việt Nam – Lào theo ba cấp độ: quan hệ toàn diện hai nước, quan hệ theo lĩnh vực chuyên ngành/địa phương, và quan hệ trực tiếp giữa Quảng Nam với Sê Kông. Tác giả chỉ ra các thành tựu học thuật đã đạt được, đồng thời khẳng định việc nghiên cứu toàn diện tiến trình lịch sử quan hệ hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Nam và Sê Kông giai đoạn 1997–2015 là đề tài chưa có công trình khoa học lịch sử nào thực hiện trọn vẹn trước đó.
Chương 2: Quan hệ hợp tác giữa tỉnh Quảng Nam với tỉnh Sê Kông từ năm 1997 đến năm 2005
Chương 2 làm rõ các yếu tố tác động và tiến trình hợp tác trong giai đoạn đầu tái lập tỉnh Quảng Nam:
- Yếu tố tác động: Vị trí địa lý tiếp giáp với 157,422 km đường biên giới; địa hình miền núi hiểm trở nhưng có mối quan hệ thân tộc, láng giềng lâu đời giữa cư dân biên giới (huyện Nam Giang, Tây Giang của Quảng Nam giáp huyện Đắc Chưng, Kà Lừm của Sê Kông). Truyền thống đoàn kết chiến đấu trong 30 năm chiến tranh cách mạng (1945–1975) tiêu biểu bằng việc thành lập Khu đặc biệt tại Tà Ngô (huyện Bến Giằng, nay là Nam Giang) ngày 10/7/1948 do đồng chí Phạm Văn Đồng ký quyết định nhằm chi viện cho chiến trường Hạ Lào; sự kiện Hoàng thân Xuphanuvông cử đồng chí Khăm Tày Xi Phăn Đon và Xi Thôn Com Ma Đăm sang làm việc với phía Việt Nam vào tháng 2/1949. Bối cảnh quốc tế khi hai nước tham gia ASEAN (Việt Nam năm 1995, Lào năm 1997), AFTA, Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS) và Hành lang kinh tế Đông – Tây.
- Yêu cầu thực tiễn: Sau khi tái lập tỉnh năm 1997, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XVIII xác định nhiệm vụ cấp bách là mở thông tuyến đường ra biên giới, nâng cấp Quốc lộ 14D (đoạn Bến Giằng đi biên giới) nối với Quốc lộ 16B của Lào. Năm 1999, hai Chính phủ cho phép lập cửa khẩu phụ Nam Giang – Đắc Tà Ọoc, và đến năm 2004 nâng cấp thành cửa khẩu quốc gia.
- Kết quả triển khai: Duy trì các cuộc tiếp xúc cấp cao giữa lãnh đạo hai tỉnh nhằm ký kết các biên bản thỏa thuận hợp tác; phối hợp lực lượng vũ trang trong công tác tuần tra bảo vệ đường biên, mốc giới, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và xử lý vấn đề di cư tự do, hôn nhân không giá thú; bước đầu mở rộng trao đổi thương mại biên mậu, cung ứng vật liệu xây dựng, hàng hóa thiết yếu và hỗ trợ nông - lâm nghiệp.
Chương 3: Bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác giữa tỉnh Quảng Nam với tỉnh Sê Kông từ năm 2006 đến năm 2015
Chương 3 tái hiện bước chuyển biến mạnh mẽ về chất và lượng trong quan hệ song phương:
- Chính trị, đối ngoại: Thiết lập cơ chế trao đổi đoàn định kỳ giữa Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Mặt trận và các đoàn thể hai tỉnh; tổ chức các sự kiện kỷ niệm Năm Đoàn kết hữu nghị.
- Quốc phòng, an ninh và công tác biên giới: Hoàn thành công tác tăng dày và tôn tạo mốc quốc giới trên thực địa; tăng cường tuần tra song phương giữa Bộ Chỉ huy Quân sự, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam với lực lượng an ninh, quân sự tỉnh Sê Kông; giữ vững an ninh trật tự khu vực cửa khẩu Nam Giang – Đắc Tà Ọoc.
- Kinh tế: Các doanh nghiệp Quảng Nam sang Sê Kông triển khai các dự án đầu tư trồng cây bời lời đỏ, cao su, phát triển nông - lâm nghiệp và thăm dò, khai thác khoáng sản tại huyện Đắc Chưng và Kà Lừm; thúc đẩy hoạt động thương mại hai chiều thông qua hệ thống đường bộ kết nối.
- Giáo dục - đào tạo: Tỉnh Quảng Nam hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho Sê Kông bằng việc cấp học bổng, tiếp nhận lưu học sinh sang học tiếng Việt và các chuyên ngành đại học, cao đẳng, trung cấp; tổ chức bồi dưỡng tiếng Lào cho cán bộ làm công tác đối ngoại của Quảng Nam.
- Văn hóa, thông tin, y tế và hoạt động khác: Phối hợp khám chữa bệnh cho cư dân biên giới; tài trợ trang thiết bị làm việc, xây dựng trường học, trạm y tế và công trình dân sinh cho tỉnh bạn; tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ.
- Công tác kết nghĩa: Đẩy mạnh kết nghĩa giữa các huyện biên giới (Nam Giang, Tây Giang) với các huyện Đắc Chưng, Kà Lừm; triển khai mô hình kết nghĩa thôn - bản hai bên biên giới nhằm củng cố khối đoàn kết cộng đồng cư dân.
Chương 4: Một số nhận xét và kinh nghiệm
Chương 4 tổng kết và khái quát các nội dung đánh giá:
- Thành tựu nổi bật: Xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định; hạ tầng giao thông và cửa khẩu từng bước được nâng cấp; mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực từ chính trị, an ninh đến kinh tế, giáo dục và giao lưu nhân dân.
- Hạn chế: Quy mô thương mại và đầu tư còn khiêm tốn; hạ tầng giao thông kết nối liên vùng vẫn còn khó khăn; hiệu quả khai thác tiềm năng kinh tế biên giới chưa tương xứng với quan hệ chính trị.
- Đặc điểm quan hệ: Mang tính toàn diện, xuất phát từ quan hệ láng giềng tự nhiên gắn bó chặt chẽ về địa - chính trị và mối quan hệ thân tộc lâu đời; chuyển dịch từ hỗ trợ mang tính nghĩa vụ sang hợp tác bình đẳng, cùng có lợi theo cơ chế thị trường.
- Bài học kinh nghiệm: (1) Quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại của hai Đảng, hai Nhà nước; (2) Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh biên giới; (3) Coi trọng công tác đào tạo nhân lực và ngoại giao nhân dân; (4) Đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông và cửa khẩu để thúc đẩy giao thương.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt khoa học và lý luận, luận án làm rõ cơ sở lịch sử, điều kiện tự nhiên, bối cảnh kinh tế - xã hội tác động đến sự hình thành và phát triển của quan hệ hợp tác giữa tỉnh Quảng Nam và tỉnh Sê Kông giai đoạn 1997–2015. Luận án góp phần cung cấp cứ liệu lịch sử khẳng định tính đúng đắn trong đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với Lào trong công cuộc đổi mới ở một địa bàn địa phương cụ thể.
Về mặt thực tiễn, luận án tái hiện một cách hệ thống và toàn diện quá trình tổ chức triển khai các hoạt động hợp tác trên từng lĩnh vực cụ thể (chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế, kết nghĩa địa phương). Trên cơ sở phân tích khách quan các thành tựu và hạn chế, tác giả rút ra các đặc điểm đặc thù và bài học kinh nghiệm, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc hoạch định chính sách, hoàn thiện cơ chế chỉ đạo và tổ chức thực hiện hợp tác toàn diện giữa tỉnh Quảng Nam với tỉnh Sê Kông trong giai đoạn tiếp theo.
Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất tiếp tục đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông kết nối hai tỉnh, trọng tâm là nâng cấp đồng bộ tuyến đường qua Cửa khẩu Nam Giang – Đắc Tà Ọoc kết nối với Hành lang kinh tế Đông – Tây; tăng cường các chính sách ưu đãi thúc đẩy đầu tư nông - lâm nghiệp, khai khoáng; nâng cao chất lượng công tác đào tạo cán bộ, lưu học sinh và củng cố vững chắc mô hình kết nghĩa thôn - bản khu vực biên giới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khung thời gian từ năm 1997 (thời điểm tái lập tỉnh Quảng Nam) đến năm 2015. Do đó, các biến chuyển trong hợp tác song phương sau năm 2015 (đặc biệt là tiến trình nâng cấp Cửa khẩu quốc tế Nam Giang - Đắc Tà Ọoc những năm gần đây) chưa được phản ánh chi tiết trong công trình. Đồng thời, việc tiếp cận nguồn dữ liệu thứ cấp từ phía các cơ quan địa phương của tỉnh Sê Kông còn có những giới hạn nhất định do điều kiện lưu trữ tại địa bàn miền núi.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng giai đoạn nghiên cứu từ năm 2016 đến nay để đánh giá tác động của các hiệp định thương mại mới và sự hoàn thiện của tuyến Hành lang kinh tế Đông – Tây đối với quan hệ hai tỉnh.
- Thực hiện các nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa mô hình hợp tác Quảng Nam – Sê Kông với mô hình hợp tác của các cặp tỉnh biên giới khác thuộc khu vực miền Trung và Tây Nguyên (như Quảng Trị - Savannakhet, Kon Tum - Attapeu).
- Đánh giá sâu hơn về hiệu quả kinh tế - xã hội của các dự án đầu tư nông nghiệp và trồng cây công nghiệp dài ngày của doanh nghiệp Việt Nam tại địa bàn tỉnh Sê Kông.
Giá trị tham khảo
Luận án là nguồn tài liệu hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách đối ngoại: Giúp các cơ quan tham mưu của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Quảng Nam và các cơ quan ngoại vụ địa phương nắm bắt tiến trình lịch sử, từ đó xây dựng kế hoạch hợp tác song phương sát hợp với điều kiện thực tế.
- Lực lượng vũ trang và quản lý biên giới: Lực lượng Biên phòng, Quân sự và Công an hai tỉnh có thể tham khảo nguồn tư liệu về lịch sử cắm mốc, phối hợp tuần tra và mô hình kết nghĩa cụm dân cư biên giới để nâng cao hiệu quả quản lý, giữ vững an ninh trật tự.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên: Là tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy và nghiên cứu các chuyên đề về Lịch sử Việt Nam hiện đại, Lịch sử quan hệ quốc tế, Lịch sử đối ngoại địa phương và Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào.
- Thế hệ trẻ và lưu học sinh hai tỉnh: Phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống đoàn kết, gắn bó lịch sử giữa cộng đồng cư dân hai địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Chiều dài đường biên giới chung giữa tỉnh Quảng Nam và tỉnh Sê Kông là bao nhiêu và tiếp giáp qua những đơn vị hành chính nào?
Trả lời: Hai tỉnh có chung đường biên giới dài 157,422 km. Phía Quảng Nam gồm hai huyện miền núi Nam Giang và Tây Giang, tiếp giáp trực tiếp với hai huyện Đắc Chưng và Kà Lừm của tỉnh Sê Kông.
2. Cửa khẩu Nam Giang – Đắc Tà Ọoc có vai trò gì và các mốc thời gian nâng cấp chính diễn ra như thế nào?
Trả lời: Cửa khẩu Nam Giang – Đắc Tà Ọoc là cửa ngõ giao thương quan trọng, nằm trên tuyến đường ngắn nhất nối Quốc lộ 14D (Việt Nam) với Quốc lộ 16B (Lào) ra biển Đông, kết nối với Hành lang kinh tế Đông – Tây. Cửa khẩu được thành lập dưới hình thức cửa khẩu phụ vào năm 1999 và được nâng cấp lên cửa khẩu quốc gia vào năm 2004.
3. Sự kiện lịch sử nào vào năm 1948 đánh dấu sự hình thành liên minh chiến đấu giữa Quảng Nam và vùng Hạ Lào?
Trả lời: Ngày 10 tháng 7 năm 1948, đồng chí Phạm Văn Đồng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký quyết định thành lập Khu đặc biệt, đóng tại Tà Ngô, huyện Bến Giằng (nay là huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam) nhằm đưa lực lượng sang giúp cách mạng Hạ Lào.
4. Doanh nghiệp tỉnh Quảng Nam đã đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế cụ thể nào tại tỉnh Sê Kông?
Trả lời: Các doanh nghiệp Quảng Nam đã sang tỉnh Sê Kông đầu tư trồng cây bời lời đỏ, trồng cao su, canh tác cây nông nghiệp, cây công nghiệp và khảo sát, đầu tư khai thác khoáng sản tại địa bàn hai huyện Đắc Chưng và Kà Lừm.
5. Luận án chia tiến trình hợp tác giữa hai tỉnh từ năm 1997 đến năm 2015 thành những giai đoạn nào?
Trả lời: Luận án chia thành hai giai đoạn chính: giai đoạn 1997–2005 (thời kỳ đầu sau tái lập tỉnh Quảng Nam, tập trung mở đường, giải quyết an ninh biên giới và bước đầu thiết lập hợp tác) và giai đoạn 2006–2015 (giai đoạn đẩy mạnh hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục đào tạo, an ninh biên giới và kết nghĩa địa phương).
Kết luận
Luận án tiến sĩ Sử học của tác giả Lê Minh Đức là công trình khoa học chuyên khảo đã tái hiện đầy đủ, chân thực và có hệ thống tiến trình lịch sử quan hệ hợp tác giữa tỉnh Quảng Nam và tỉnh Sê Kông giai đoạn 1997–2015. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic kết hợp nguồn tư liệu thực tiễn phong phú, công trình đã làm sáng tỏ các yếu tố tác động, kết quả đạt được trên từng lĩnh vực và chỉ ra những điểm còn hạn chế trong quá trình hợp tác song phương. Những bài học kinh nghiệm và luận cứ khoa học được đúc kết từ luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoạch định chính sách đối ngoại địa phương, góp phần củng cố mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện Việt Nam – Lào trong bối cảnh mới.