Chương 1: Hoàn cảnh lịch sử, chủ trương xây dựng cơ sở cách mạng trong cả nước và ở Trung Lào của Đảng nhân dân Lào từ năm 1955 đến năm 1975. Chương 2: Quá trình xây dựng cơ sở cách mạng ở Trung Lào từ năm 1955 đến năm 1975. Chương 3: Một số nhận xét về quá trình xây dựng cơ sở cách mạng ở Trung Lào từ năm 1955 đến năm 1975. 8 NỘI DUNG Chƣơng 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ, CHỦ TRƢƠNG XÂY DỰNG CƠ SỞ CÁCH MẠNG TRONG CẢ NƢỚC VÀ Ở TRUNG LÀO CỦA ĐẢNG NHÂN DÂN LÀO TỪ NĂM 1955 ĐẾN NĂM 1975 1.
Hoàn cảnh lịch sử 1. Khái quát tình hình nƣớc Lào từ sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 đến năm 1957 Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ba nước nước Lào, Việt Nam, Camphuchia kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương. Tuy nhiên, đế quốc Mỹ đã thực hiện ngay mưu đồ thay chân Pháp, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ trên bán đảo Đông Dương, nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc, bao vây uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa từ phía Đông Nam Á. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của “Ban vận động thành lập Đảng”, của Chính phủ kháng chiến và Trung ương Neo Lào Ítxala, của các tổ chức cơ sở Đảng ở địa phương, nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng Lào đã chuyển ngay vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, đấu tranh thi hành các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ, tiến tới hòa hợp dân tộc.
Hiệp định Giơnevơ quy định: Ở Lào có phái Pathét Lào1 là lực lượng chính trị độc lập, hợp pháp, có quân đội, có vùng tập kết là hai tỉnh Hủaphăn (Sầmnưa) và Phongxalỳ; Chính phủ Vương quốc kiểm soát 10 tỉnh còn lại2. Hai phía Pathét Lào và Chính phủ vương quốc sẽ cùng thương lượng để giải quyết vấn đề chính trị trên 1 “Các lực lượng Pathét Lào” là tên gọi mới của các lực lượng và Quân đội Lào Ítxala được ghi trong Hiệp định Giơnevơ năm 1954. 2 Đó là các tỉnh: Nặmthà, Viêngchăn, Luôngphbang, Khămmuộn, Xavanakhệt, Saravan, Xaynhạbuly, Chămpaxắc, Xiêng khoảng, Áttapư. 9 cơ sở đảm bảo quyền tự do, dân chủ của nhân dân, tiến tới thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử tự do.
Nhân dân và lực lượng vũ trang cách mạng Lào trên cả nước nghiêm chỉnh thực hiện Hiệp định Giơnevơ, nhưng đế quốc Mỹ và các thế lực phản động trong chính quyền Vương quốc lại ra sức phá hoại Hiệp định. Ngày 8/9/1954, Mỹ lôi kéo các nước đồng minh thành lập “Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á” (SEATO), đặt miền Nam Việt Nam, Lào và Camphuchia trong khu vực bảo hộ của khối liên minh quân sự này. Mặt khác, bằng chiêu bài viện trợ, Mỹ ra sức mua chuộc lôi kéo tập hợp các thế lực phản động thân Mỹ, đứng đầu là Càtày Đônxaxôrít và Phủi Xananicon tiến hành các hoạt động thù địch đối với những người kháng chiến cũ ở các tỉnh do chính quyền Vương quốc quản lý. Ngày 18/9/1954, bọn phản động ám sát ông Cuvôravông, Bộ trưởng Quốc phòng Vương quốc, người có xu hướng hòa bình trung lập; gây sức ép buộc Hoàng thân Xuvanna Phuma phải từ chức Thủ tướng; nhà vua Lào cử Càtày Đônxaxôrít thành lập chính phủ mới gồm đa số các phần tử thân Mỹ nắm các vị trí chủ chốt trong chính phủ.
Ngày 29/9/1954, Mỹ ép Pháp ký Thông cáo Mỹ-Pháp ở Oasinhtơn, để Mỹ trực tiếp viện trợ và huấn luyện cho quân đội Vương quốc Lào, miền Nam Việt Nam và Campuchia. Hiệp định Giơnevơ (1954) quy định: Ở Lào, trong vòng 60 ngày kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực, quân đội nước ngoài phải rút khỏi lãnh thổ Lào. Quân đội Vương quốc Lào (thực chất là đội quân phụ lực của Pháp) phải được sắp xếp lại theo một thỏa thuận riêng với phía Pathét Lào. Lực lượng vũ trang Pathét Lào tập kết về hai tỉnh Hủaphăn và Phôngxalỳ, chờ ngày hòa hợp dân tộc.
Quân tình nguyện Việt Nam tập kết về nước. Thực hiện Hiệp định Giơnevơ, trong thời gian chờ đợi một giải pháp chính trị cho vấn đề Lào, Trung ương Neo Lào Ítxala và Chính phủ kháng chiến Lào tổ chức việc chuyển quân tập kết về hai tỉnh Hủaphăn và Phôngxalỳ. Từ trung tuần tháng 8 năm 1954, theo thỏa thuận giữa Pathét Lào và chính quyền Vương quốc, quân đội các bên ở Lào tiến hành chuyển về đóng quân tạm thời tại các nơi quy 10 định. Ngay sau khi lệnh ngừng bắn và thỏa thuận đóng quân tạm thời, phía Vương quốc đã vi phạm các quy định.
Chính sách xâm nhập, phá hoại của đế quốc Mỹ và các thế lực phản động tay sai ở Lào đã làm cho nền hòa bình mới lặp lại đứng trước nguy cơ bị phá vỡ, làm cho tình hình Lào trở nên căng thẳng. Đế quốc Mỹ nhảy vào thay chân Pháp đã bộc lộ nguyên hình kẻ xâm lược, trở thành kẻ thù chính nguy hiểm nhất của nhân dân Lào và các nước Đông Dương. Ngày 22/3/1955, Đảng Nhân dân Lào ra đời. Ngày 6/1/1956, Neo Lào Itxala triệu tập Đại hội tại tỉnh Sầm nưa.
Đại hội quyết định đổi tên Neo Lào Itxala thành Neo Lào Hắcxạt (Mặt trận Lào yêu nước). Từ năm 1955-1957, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Neo Lào Hắcxạt, nhân dân Lào đã đấu tranh bảo vệ 2 tỉnh tập kết, triển khai lực lượng ở 10 tỉnh. Dưới áp lực phong trào đấu tranh của cách mạng, đã dẫn tới việc Chính phủ liên hiệp (19/11/1957) – một bước phá sản đầu tiên của Mỹ ở Lào. Khái quát tình hình nƣớc Lào và Trung Lào từ năm 1958-1975 Từ năm 1958-1959, Chính phủ Liên hiệp được thành lập trở thành sự kiện đánh dấu thắng lợi bước đầu hết sức quan trọng cuộc đấu tranh của nhân dân Lào.
Ở vào giai đoạn mới của cách mạng, quân và dân Trung Lào có những điều kiện thuận lợi hết sức cơ bản, đồng thời xuất hiện những khó khăn. Về thuận lợi, ở Thủ đô Viêngchăn, Liên mường 90, tỉnh Khămmuộn và tỉnh Xavannakhệt, tổ chức Neo Lào Hắcxạt và báo “Lào Hắcxạt” đã ra hoạt động công khai, uy tín và ảnh hưởng ngày càng nâng cao và lan rộng ăn sâu trong các tầng lớp xã hội. Các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là quần chúng lao động được giác ngộ ngày càng tin tưởng vào đường lối, sách lược đấu tranh của Đảng và của Chính phủ kháng chiến. Nhân dân đoàn kết, nỗ lực trong lao động sản xuất, tích cực đấu tranh với các thế lực cực hữu phản động tay sai Mỹ.
Về khó khăn, cơ sở chính trị, căn cứ kháng chiến và lực lượng cách mạng quần chúng mới được xây dựng bước đầu, chưa được củng cố phát triển, trong đó lực lượng vũ trang hầu như chưa được củng cố vững chắc. Phong trào đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai những năm qua tuy có phát triển, nhưng còn bộc lộ những hạn chế như phát triển không đồng đều, thiếu tính liên kết giữa các vùng rừng núi, nông thôn, đồng bằng và đô thị, giữa các tỉnh và chưa trở thành cầu nối 11 giữa Trung Lào với các địa phương trong cả nước. Đế quốc Mỹ và thế lực tay sai cực hữu phản động luôn thực hiện ý đồ phá hoại Chính phủ liên hiệp và hòa hợp dân tộc. Từ năm 1960-1962, trên thế giới, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa và phong trào yêu chuộng hòa bình của các lực lượng tiến bộ phát triển mạnh mẽ, đạt nhiều thành tựu to lớn.
Lúc này đế quốc Mỹ đang thay đổi chiến lược toàn cầu, từ chiến lược “trả đũa ồ ạt” sang chiến lược “phản ứng linh hoạt”. Tại châu Á - Thái Bình Dương, nhất là khu vực Đông Nam Á, cuộc tranh giành ảnh hưởng và quyền lợi giữa các nước trong và ngoài khu vực, nhất là giữa các nước lớn vẫn luôn căng thẳng. Một số chính quyền đồng minh của Mỹ đã và đang can dự vào cuộc xâm lược ba nước Đông Dương của đế quốc Mỹ. Ở Lào, ngay từ cuối năm 1959, cùng với việc gạt Pháp, đế quốc Mỹ đã chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”1 với âm mưu và mục tiêu không thay đổi là tiêu diệt lực lượng cách mạng Pathét Lào, xâm lược và áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, dùng Lào làm bàn đạp tấn công các nước xã hội chủ nghĩa, biến Lào thành lá chắn để ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc tràn sang khu vực phía tây sông Mê Kông.
Ngay sau khi can thiệp vào Lào, đế quốc Mỹ đã dùng chiêu bài “viện trợ” kinh tế, quân sự đưa cố vấn vào Lào, triệt để lợi dụng hình thức và danh nghĩa pháp lý của chính quyền cũ, liên tiếp dựng nên chính quyền thân Mỹ, nắm và cải tổ quân đội, cảnh sát, dùng chính quyền tay sai và quân đội, cảnh sát làm công cụ chủ yếu phá hoại Hiệp định Giơnevơ, các hiệp nghị Viêngchăn và Chính phủ liên hiệp dân tộc. Đầu năm 1960, cơ quan Trung ương Đảng nhân dân Lào, Tổng quân ủy Trung ương, Bộ Chỉ huy tối cao Pathét Lào từ Việt Nam trở về nước trực tiếp chỉ đạo quân dân cả nước tiếp tục kháng chiến. Đoàn 595 chuyên gia quân sự Việt Nam cũng được điều đi để giúp các nước bạn Lào. 1 Công thức của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” ở Lào là: Đế quốc Mỹ đóng vai trò chỉ huy thông qua bộ máy cố vấn và cung cấp tiền bạc, vũ khí; lực lượng tay sai phản động ngụy trang dưới danh nghĩa “độc lập, quốc gia, dân chủ” giả hiệu làm công cụ trực tiếp tiến hành chiến tranh.
12 Nhân dân các bộ tộc và lực lượng vũ trang Trung Lào cùng cả nước đẩy mạnh “đợt hoạt động mùa mưa 1959” sang mùa khô 1959-1960. Các hình thức đấu tranh, trong đó đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị bước đầu được vận dụng. Các lực lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang tiếp tục được xây dựng. Các vùng căn cứ, vùng giải phóng mới hình thành được củng cố, bảo vệ.
Những nhân tố cơ bản nội tại về lực lượng, về căn cứ đứng chân, về hình thức đấu tranh đã bước đầu được tạo ra để nhân dân và lực lượng vũ trang các tỉnh Trung Lào chuyển sang tiến hành chiến tranh nhân dân, góp phần cùng cả nước chống chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ và tay sai.