chương 1 trở đi) chứ không phải chỉ “được thêm vào như một phần phụ” [78;5]. Chủ đề của luận án cũng được đề cập rõ nét trong chương 14,15,16 của tác phẩm. Trong đó, tác giả tập trung phân tích hậu quả của cuộc Nội chiến; các quan điểm về Tái thiết đất nước của mỗi Đảng phái trong xã hội Mỹ lúc bấy giờ và những diễn biến chính của quá trình Tái thiết. Từ đó tác giả rút ra nhận xét: những di sản của cuộc Nội chiến và Tái thiết ảnh hưởng đến nước Mỹ tận sau này.
Đối với các công trình nguyên bản bằng tiếng Anh, các công trình được viết dưới dạng thông sử của Mỹ như: “The Oxford History of the American People, Vol 1 & Vol 2” (Lịch sử dân tộc Mỹ, Tập 1 & 2) của Samuel Elliot Morison (Oxford University Press, Inc, 1965); “The United States 1830 - 1850: The Nation and its Sections” (Nước Mỹ từ năm 1830 đến năm 1850: Quốc gia và những bộ phận của nó) của Frederick Jackson Turner (W. Norton & Company, Inc, New York, 1965); “American People” (Con người Mỹ, California University press, 1976); “American - Past and Present” (Hoa Kỳ - quá khứ và hiện tại), (Scott, Foresman and Company, 1987) của 15 Robert A.William;“Nation of Nations (A Concise Narrative of The American Republic), Vol 1: To 1877” (Dân tộc của các dân tộc - Lược sử nền Cộng hòa Mỹ đến năm 1877), Tập 1) của James W. Trong nhóm công trình này, do phạm vi nghiên cứu rộng cả về thời gian và không gian, trên nhiều lĩnh vực khác nhau: dân cư, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự v. Do đó, nội dung viết về quá trình Tái thiết (1863 - 1877) mới chỉ được đề cập một cách khái lược.
Phần lớn các tác phẩm này đã hệ thống hóa diễn tiến của quá trình Tái thiết, lấy đó là cơ sở để tập trung phân tích sự phát triển của nước Mỹ ở giai đoạn sau. Những công trình đề cập trực tiếp đến thời kỳ Tái thiết (1863 - 1877) 1. Công trình của học giả trong nước Cuốn “Lịch sử Hoa Kỳ giai đoạn lập quốc đến thế kỷ XIX” (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2015) của tác giả Nguyễn Thái Yên Hương gồm 5 chương diễn giải các vấn đề theo mạch phát triển của lịch sử nước Mỹ từ khi có cuộc phát kiến của Christopher Columbus (1492) đến thập niên cuối của thế kỷ XIX. Trong đó, tác giả dành thời lượng chương 4 và chương 5 đề cập đến cuộc Nội chiến Mỹ và công cuộc Tái thiết đất nước sau chiến tranh.
Những vấn đề mà tác giả hướng tới giải quyết như: phân tích các vấn đề đặt ra cho Hoa Kỳ sau Nội chiến và những mục tiêu cơ bản của công cuộc Tái thiết; quá trình điều chỉnh và bổ sung nội dung “Kế hoạch Tái thiết” qua các nhiệm kỳ Tổng thống. Đồng thời, thực hiện đánh giá những chuyển biến của nước Mỹ trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và ý nghĩa của chúng đối với sự phát triển của nước Mỹ. Mặc dù thời lượng của chương còn khá khiêm tốn (26 trang) song những nội dung được đề cập là cơ sở gợi mở giúp người viết định hướng nội dung nghiên cứu về giai đoạn Tái thiết - “một thời kỳ được sử sách Mỹ bàn đến khá nhiều” [42;217]. Bài viết “Hòa giải dân tộc sau nội chiến của Hoa Kỳ: những điều nên suy ngẫm cho các xung đột dân tộc trên thế giới hiện nay” của tác giả Đỗ Thị Diệu Ngọc, Tạp chí Châu Mỹ ngày nay (số 5/2013) bước đầu tiếp cận việc tìm hiểu giai đoạn Tái thiết dưới góc độ nỗ lực hòa giải dân tộc.
Trong bài viết, tác giả tập trung phân tích những hoạt động của chính quyền Lincoln sau khi Nội chiến kết thúc: công bằng với cả hai bên, viện dẫn tôn giáo để thu phục nhân tâm, đặt tiền đề để 16 bên thắng cuộc giúp đỡ bên thua cuộc. Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm để giải quyết những xung đột dân tộc trên thế giới hiện nay. Tuy nhiên, trong khuôn khổ một bài nghiên cứu, tác giả chưa đi sâu lý giải những khó khăn, phức tạp của công cuộc Tái thiết cũng như chưa tiếp cận đến nội dung cốt lõi nhất của quá trình này là sự thích ứng của miền Nam và cả nước Mỹ khi chế độ nô lệ chấm dứt. Công trình của học giả nước ngoài So với các công trình nghiên cứu của Việt Nam thì các công trình của học giả nước ngoài nghiên cứu trực tiếp về thời kỳ Tái thiết rất phong phú và đa dạng, trong đó nhiều nhất là các công trình của học giả Mỹ.
Các nhà nghiên cứu Mỹ thường đi đầu trong việc sản sinh ra các trường phái hay các luận thuyết để giải thích một hiện tượng hay một giai đoạn lịch sử nhất định. Mỗi thế hệ viết lịch sử cho phù hợp với nhu cầu của mình hoặc phục vụ mục đích tranh luận. Vì vậy, khi khám phá các sự kiện và quá trình lịch sử từ góc độ văn hóa chính trị ở những giai đoạn khác nhau, có thể mang lại những nhận thức mới về các hiện tượng và quá trình đó. Đúng như lời nhận xét của Fernand Brandel: “sử học không ngừng bị căn vặn, buộc phải đổi mới, cần thiết phải có những lần trẻ lại liên tiếp” [21;6].
Tuy nhiên trên thực tế, không có giai đoạn nào trong lịch sử nước Mỹ lại trải qua một sự “đánh giá lại” phức tạp hơn thời kỳ Tái thiết. Hệ thống các quan điểm “đồng thuận” từng thống trị nền học thuật Mỹ, định hướng cách nhìn nhận của người Mỹ về thời kỳ Tái thiết trong suốt một thời gian dài bị xóa bỏ. Trên cơ sở những nguồn tư liệu mới, cách tiếp cận mới và phương pháp nghiên cứu mới khiến những hiểu biết về thời kỳ này hiện nay đã có sự thay đổi đáng kể. Theo hướng tiếp cận nội dung, kết hợp với tư duy phản biện (critical thinking), luận án tiến hành hệ thống hóa các trường phái nghiên cứu về thời kỳ Tái thiết như sau: Trường phái Dunning (The Dunning school): Từ đầu thế kỷ XX, các nhà sử học Mỹ có những công trình đầu tiên tìm hiểu về quá trình Tái thiết.
Người khởi xướng là giáo sư WilliamA. Theo Dunning, khi Nội chiến chấm dứt, miền Nam đã chấp nhận thất bại và sẵn 17 sàng hội nhập lại Liên bang theo kế hoạch “khoan dung” của Tổng thống Lincoln và sau đó là của Tổng thống Andrew Johnson đưa ra. Nhưng chính phủ miền Bắc đầy thù hận dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng hòa tìm cách phá hoại quá trình trên. Giai đoạn Tái thiết dưới sự lãnh đạo của Quốc hội cấp tiến (1867-1877) được xem là “thời kỳ nhớp nhúa bẩn thỉu” [124;46] do tình trạng tham nhũng và quản lý yếu kém của chính phủ diễn ra tràn lan.
Ông lý giải nguyên nhân của tình trạng này là do những người da trắng miền Nam đã bị tước bỏ quyền lực quen thuộc, chính quyền mới ở các tiểu bang nằm trong tay bọn “Carpetbagger”3 từ miền Bắc và bọn “scalawags”4 da trắng vô đạo đức của miền Nam cùng với những “người da đen dốt nát, chưa sẵn sàng được tự do và thực thi những quyền lợi chính trị mà người phương Bắc áp đặt cho họ” [124;86]. Sau những chuỗi ngày đau khổ, cộng đồng da trắng miền Nam liên kết lại để lật đổ các chính quyền địa phương và tái lập lại quyền tối thượng của người da trắng (home rules). Việc trao quyền tự do và quyền bầu cử cho người da đen được xem là sai lầm nghiêm trọng. Do đó, Tái thiết được xem là thời kỳ tăm tối nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Quan điểm của Dunning nhận được sự đồng tình của John Burgess và nhiều sử gia thời kỳ đó. Dưới sự hướng dẫn của hai ông, nhiều công trình nghiên cứu quá trình Tái thiết ở từng tiểu bang đã ra đời. Tiêu biểu như: William Watson Davis với “The Civil War and Reconstruction in Florida” (1913); J.de Roulhac Hamilton với “Reconstruction in North Carolina” (1914); Walter Lynwood Fleming với “Civil War and Reconstruction in Alabama” (1905), James Wilford Garner: “Reconstruction in Mississippi” (1901); C.Ramsdell: “Reconstruction in Texas” (1910); J. Reynolds: “Reconstruction in South Carolina, 1865-1877” (1905); Thomas Staples: “Reconstruction in Arkansas, 1862-1874”(1923); C.
Mildred Thompson: “Reconstruction in Georgia” (1915); Claude Bowers: “The Tragic Era” (1929); E. Merton Coulter: The South During Reconstruction (1947). Hệ thống các tác phẩm trên tập hợp thành trường phái Dunning và có ảnh hưởng sâu rộng trong giới học thuật Mỹ suốt nửa đầu thế kỷ XX. Quan điểm này còn tiếp cận rộng rãi đến công chúng Mỹ thông qua các bộ phim như: “The Birth of 3 Thuật ngữ chỉ những người miền Bắc nghèo di cư vào miền Nam nước Mỹ sau thời kỳ Nội chiến, hòng trục lợi từ sự bất ổn và mất kiểm soát của chính quyền trong thời kỳ này.
Khi đi họ chỉ mang theo túi vải (carpet-bag) nhưng sau đó trở nên giàu có nhờ vơ vét của cải của miền Nam. 4 Thuật ngữ chỉ những người miền Nam “phản bội” khi họ phản đối ly khai, ủng hộ đảng Cộng hòa, hợp tác với chính quyền mới vì quyền lợi cá nhân. 18 a Nation” (Sự ra đời của một quốc gia) của đạo diễn D.Griffith’s 5; “Gone with the wind” (Cuốn theo chiều gió). Nhà sử học Bradley nhận xét: “Trường phái Dunning lên án Tái thiết là một âm mưu của Đảng Cộng hòa nhằm trả thù triệt để và chinh phục hoàn toàn người da trắng miền Nam, sử dụng quân đội Liên bang cho việc xây dựng nhà nước tham nhũng, do liên minh xấu xa của carpetbaggers, scalawags và người tự do” [99;268].
Họ bác bỏ hoàn toàn vai trò và lợi ích của cộng đồng người Mỹ gốc Phi trong đời sống chính trị Hoa Kỳ. Trên thực tế, những lập luận mà trường phái này đưa ra đã cung cấp cơ sở học thuật biện minh cho sự tồn tại của hệ thống phân biệt và kỳ thị chủng tộc Jim Crow tồn tại sâu rộng ở miền Nam những năm cuối thế kỷ XIX cho đến tận thập niên 60 của thế kỷ XX. Trường phái Beardian (The Beardian School): Vào những năm 20 - 30 của thế kỷ XX là giai đoạn đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của quan điểm sử dụng kinh tế để lý giải các vấn đề lịch sử. Người khởi xướng cho trường phái này là Charles Beard với tác phẩm: “The Rise of American Civilization” (New York: Macmillan, 1927).Trong đó, khi lý giải về nguyên nhân cuộc Nội chiến, tác giả cho rằng: “đó là cuộc đấu tranh giữa hai nền kinh tế có nguồn gốc từ lợi ích vật chất khác nhau” [92;238].