Chương 1. Khái quát vùng đất Bình Dương trước năm 2002 (20 trang) Chương 2. Sự phát triển của thị trấn Bình Dương trong giai đoạn 2002 - 2010 (25 trang) Chương 3. Bước phát triển mới của thị trấn Bình Dương trong giai đoạn 2011 - 2020 (33 trang) 7 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VÙNG ĐẤT BÌNH DƢƠNG TRƢỚC NĂM 2002 1.
Di n cách địa lý hành chính B nh Dƣơng qua các thời kỳ lịch sử Bình Dương nằm phía Bắc của huyện Phù Mỹ, cách trung tâm huyện lỵ Phù Mỹ 14km, là đầu mối giao thông đi đến các xã Mỹ Lợi, Mỹ An, Mỹ Thắng, Mỹ Đức, Mỹ Châu, Mỹ Lộc, Mỹ Phong. Bình Dương có đường Quốc lộ 1A đi qua. Đây là tuyến giao thông huyết mạch quan trọng nhất của thị trấn, từ đây có thể thông thương với các vùng lân cận, các địa phương khác trong cả nước. Bình Dương có tổng diện tích tự nhiên 392 ha, với 4 đơn vị hành chính gồm khu phố Dương Liễu Tây, Dương Liễu Nam, Dương Liễu Bắc, Dương Liễu Đông.
Trên bản đồ Việt Nam, Bình Dương nằm ở Bắc vĩ tuyến 14, với toạ độ địa lý 14020 - 14023 độ vĩ Bắc và từ 108 056 - 109013 kinh Đông. Phía Đông giáp xã Mỹ Lợi, phía Tây giáp xã Mỹ Lộc, phía Nam giáp xã Mỹ Phong, phía Bắc giáp xã Mỹ Châu. Bình Dương cách thành phố Quy Nhơn 60km về phía Nam và cách thị xã Hoài Nhơn 12km về phía Bắc. Đây là hai đầu tàu kinh tế của tỉnh Bình Định.
Vị thế đó giúp Bình Dương có cơ hội để tiếp cận, giao thương kinh tế một cách dễ dàng, nhanh chóng, vì thế có tiềm năng để phát triển trong tương lai. Về mặt địa hình, toàn bộ thị trấn Bình Dương có địa hình vùng đồi, với 2 dạng địa hình chính là gò đồi và một phần đồng bằng nhỏ hẹp. Khu vực gò đồi chiếm khoảng 60% diện tích, có độ cao từ 10,2 m đến 17,5m so với mặt nước biển. Vùng đồng bằng chiếm một phần nhỏ diện tích ở phía Bắc trải dài về phía Đông.
Với sự phân bố địa hình này, nhìn chung, đất đai Bình Dương chủ yếu là đất gò, đồi, với kết cấu địa chất là vùng đất dốc, cát sỏi, đá nhỏ. Với kiểu khí hậu cận xích đạo, Bình Dương hàng năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô. Mùa khô, thường bắt đầu từ tháng hai đến tháng chín. Mùa mưa, bắt đầu từ khoảng tháng mười đến tháng một năm sau.
Vào mùa 8 khô, thời tiết thường có gió khô hanh, gây oi bức, nóng nực. Thời gian nóng trong ngày thường kéo dài từ 6h sáng cho đến 22h đêm. Nhiệt độ cao nhất trong năm là 40ºC, nhiệt độ trung bình trong năm là 27ºC, nhiệt độ thấp nhất trong năm là 15ºC. Đặc biệt, vào những ngày nắng nóng đỉnh điểm của mùa khô nền nhiệt trung bình có thể lên tới 380C - 410C, tập trung vào tháng sáu và tháng bảy hàng năm.
Mùa mưa thường kéo dài, tổng lượng mưa trung bình năm là 1. Lượng mưa tập trung vào tháng mười và tháng mười một, vào thời gian này mưa lớn và kéo dài gây ngập lụt cục bộ tại một số địa điểm trên địa bàn. Với kiểu thời tiết này, Bình Dương chịu những ảnh hưởng bão lụt và hạn hán hằng năm như các vùng khác trong tỉnh Bình Định. Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, tên gọi Bình Dương xuất hiện lần đầu tiên dưới triều vua Minh Mệnh (1820-1840).
Năm Nhâm Ngọ (1822), vua Minh Mệnh quyết định đổi tên Trạm Cây Thị 1 thành trạm Bình Dương làm nơi trung chuyển, chuyển giao công văn từ Quy Nhơn ra các địa phương phía Bắc dọc theo Quốc lộ 1. Đồng thời là trung tâm lưu chuyển công văn, giấy tờ cho các xã, tổng vùng Bắc Phù Mỹ. Đây cũng là nơi dừng chân của quan lại khi đi tuần. Trạm xây dựng trên vùng đất có diện tích khoảng 3ha, xung quanh có tường cao, bên ngoài tường đào hào sâu, rộng 3m, cổng ra vào trạm có quân lính canh gác; bên trong, ngoài một số công trình dùng để nghỉ ngơi còn xây dựng một biệt khu riêng để tạm giam người phạm tội.
Trải qua hơn một thế kỷ với biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử, Trạm Bình Dương vẫn tồn tại cho đến năm 1945. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, hưởng ứng lời kêu gọi của trung ương Đảng và Chính phủ nhân dân cả nước nói chung, nhân dân xã Mỹ Lợi nói riêng đã hăng hái tham gia “Tuần lễ vàng” xây dựng “Quỹ Độc lập”. Trạm Bình Dương lúc này trở thành nơi tổ chức tiếp nhận một khối lượng lớn vàng, bạc, tiền của đồng bào các xã trong vùng mang về để ủng hộ cách mạng. Như vậy, sau năm 1 Trạm này do quân Tây Sơn xây dựng năm 1786, làm nơi đồn trú tạm thời cho quân lính từ phía Nam hành quân ra Bắc đánh đuổi quân Thanh.
9 1945, tên gọi Bình Dương tiếp tục được sử dụng với tư cách là tên của một trạm dừng chân. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, hiệp định Giơnevơ được ký kết. Thực hiện đúng các điều khoản của hiệp định, tại tỉnh Bình Định, chính quyền cách mạng đã chọn bốn địa điểm để tiến hành tập kết, chuyển quân, bao gồm Bồng Sơn (Hoài Nhơn), Dương Liễu - Bình Dương (Phù Mỹ), Khánh Phước - Phù Ly (Phù Cát) và thị xã Quy Nhơn. Ngày 9/5/1955, Trạm Bình Dương tiếp tục được chính quyền cách mạng xã Mỹ Lợi chọn làm địa điểm để tổ chức cuộc míttinh chào mừng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.
Như vậy, trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến đầu năm 2000 tên gọi Bình Dương được tiếp tục sử dụng và ngày càng phổ biến hơn trong các văn bản giấy tờ của chính quyền cũng như trong đời sống hàng ngày của nhân dân. Đến năm 2000, trong bản “Thuyết minh quy hoạch xây dựng khu trung tâm Bình Dương xã Mỹ Lợi, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định” tên gọi Bình Dương chính thức sử dụng cho một đơn vị hành chính có tên là “Khu trung tâm Bình Dương xã Mỹ Lợi” [30; tr. Đến năm 2002, trong Nghị định của Chính phủ về thành lập thị trấn tên gọi Bình Dương được chính thức đặt tên cho thị trấn và sử dụng từ đó cho đến hiện nay. Ngày nay, hai chữ Bình Dương không chỉ đơn thuần là tên gọi của một đơn vị hành chính mà nó đã trở thành tên một địa danh đã đi vào lịch sử, đi vào tiềm thức của người dân như để chỉ về một vùng đất giàu sức sống, đầy khát vọng và nghị lực vươn lên.
Ngược dòng lịch sử của vùng đất này, xưa kia dưới thời đại các Vua Hùng dựng nước, vùng đất Bình Định nói chung, Bình Dương nói riêng thuộc bộ Việt Thường Thị của nhà nước Văn Lang[31]. Dưới thời Bắc Thuộc, vùng đất này do các triều đại phong kiến phương Bắc cai trị. Từ năm 192 trở đi, Bình Dương là vùng đất thuộc Nhà nước ChamPa cổ đại. Thông qua các đợt khai quật khảo cổ học, giới nghiên cứu đã xác định cách đây khoảng 2000 năm, trên vùng đất Bình Định ngày nay đã có cư dân văn hóa Sa Huỳnh sinh sống.
Từ đầu Công nguyên (năm 192), trên dải đất miền Trung Việt Nam đã 1 hình thành một nhà nước cổ đại, đó là nhà nước ChamPa. Nhà nước ChamPa được xây dựng trên nền văn hóa Sa Huỳnh rực rỡ trước đó; đồng thời, tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa cùng nhiều yếu tố của các nền văn hóa khác trong khu vực. Nhà nước ChamPa với sự khởi nguồn từ năm 192 tồn tại trong suốt 16 thế kỷ và kết thúc vai trò lịch sử vào nửa cuối thế kỷ XVII. Bình Định là vùng đất trung tâm của nhà nước này trong gần 5 thế kỷ.
Mặc dù có nhiều bước thăng trầm, chiến tranh xảy ra liên miên, tuy nhiên văn hóa ChamPa vẫn phát triển đến khi nhà nước Cham Pa mất vai trò lịch sử. Nằm chung trong dòng chảy văn hóa và lịch sử ấy, Bình Định nói chung và Bình Dương nói riêng là một bộ phận nằm trên nhiều tầng văn hóa khác nhau. Cũng như nhiều địa danh khác của vùng đất Nam Trung Bộ, Bình Dương được hình thành theo tiến trình phát triển chung của Bình Định và chịu những ảnh hưởng nhất định từ nền văn hóa Sa Huỳnh, Cham Pa và nền văn hóa Việt; đó là sự giao thoa giữa các nền văn hóa tạo nên một vùng đất với nhiều đặc trưng riêng. Theo dòng chảy của lịch sử, năm 1470 vua Lê Thánh Tông lấy vùng đất Vijaya của Chiêm Thành lập phủ Quy Nhân gồm 3 huyện Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn thuộc Quảng Nam thừa tuyên[31].
Vùng đất Bình Dương lúc này thuộc huyện Phù Ly, phủ Hoài Nhân. Song song với quá trình khai phá đất đai, dân cư cũng tập trung ngày một đông đúc. Theo nhiều tư liệu lịch sử, dưới thời Hậu Lê (1428-1789), đã có một số dòng họ từ Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) di cư vào vùng đất Bình Định ngày nay để khai hoang lập ấp. Qua tư liệu khai thác được còn lưu lại tại nhà ông Đỗ Trực (xóm Phú Hòa, thôn Mỹ Phú, xã Mỹ Lợi) có trích đoạn với nội dung: Tổ tiên ta, ông bà tổ tộc ta người gốc tại làng Bố chính, huyện Minh Sinh (tức huyện Quỳnh Lưu) tỉnh Nghệ An.
Trong khoảng thời gian từ 1428 đến 1497 ông thủy tổ đã làm quan về hưu Thái Lang- Trưởng tử Đỗ Công Lưu, cùng với quý lang, quý tử Đỗ Đăng Khoa là hai anh em rời bỏ quê hương tị nạn vào Nam. Hai anh em cùng cư ngụ tại làng 1 Bích Khê xã, Phù Ly Phủ, Bình Định tỉnh thuộc Trung Bộ Việt Nam. Tính đến nay đã trải qua 500 năm với 11 đời có 17 phái [27]. Căn cứ vào gia phả họ Đỗ, có thể thấy họ Đỗ là dòng họ đến xã Mỹ Phong và xã Mỹ Lợi sớm nhất vào khoảng thế kỷ XVI.
Sau đó là dòng họ Ngô, họ Nguyễn và các dòng họ khác cùng đến đây khai hoang sinh sống tại vùng đất này. Khi chúa Nguyễn vào Đàng Trong khai phá, nhiều dân đã di cư theo vào lập nghiệp. Theo tiến trình ấy, thế kỷ XVIII đánh dấu một thời kỳ di dân rộng rãi dưới triều Tây Sơn. Có lẽ đây là giai đoạn cư dân đến vùng đất Bình Dương khai hoang sinh sống đông đúc và trải qua các thời kỳ tạo nên một mật độ dân số như ngày nay.