Chương 1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu, tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 2. Quá trình hình thành cộng đồng ngƣời Việt ở Đà Lạt từ đầu thế kỷ XX đến năm 1954 Chương 3. Quá trình phát triển của cộng đồng ngƣời Việt ở Đà Lạt từ năm 1955 đến nay Chương 4.
Đặc điểm, khuynh hƣớng biến đổi và giải pháp phát triển bền vững cộng đồng ngƣời Việt ở Đà Lạt 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 1. Các đặc điểm địa lý tự nhiên của Đà Lạt - Vị trí địa lý và tên gọi: Đà Lạt là tỉnh lỵ của Lâm Đồng, tọa lạc ở độ cao trung bình khoảng 1.500m so với mặt nƣớc biển, có tọa độ địa lý: kinh độ từ 108019’23’’ đông đến 108036’27’’; vĩ độ: từ 11048’36’’ Bắc đến 12001’07’’ Bắc, không có đƣờng địa giới hành chính chung với các tỉnh lân cận.
Diện tích tự nhiên của Đà Lạt là 394,46km2, dân số là 220.251 ngƣời, mật độ dân số 558 ngƣời/km2 (năm 2015). Hiện nay, thành phố Đà Lạt gồm có 12 phƣờng, đƣợc đánh số từ phƣờng 1 đến phƣờng 12 và 4 xã ngoại thành gồm Tà Nung, Xuân Thọ, Xuân Trƣờng, Trạm Hành [Cục Thống kê Lâm Đồng, 2015] (xem hình 1. Bản đồ hành chính thành phố Đà Lạt “Nguồn: Tác giả Luận án” 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo phân loại đô thị toàn quốc, Đà Lạt là đô thị loại I. Đối với Lâm Đồng, Đà Lạt đƣợc xác định có 5 tính chất quan trọng là: Tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng; trung tâm du lịch - nghỉ dƣỡng; trung tâm đào tạo đa ngành, nghiên cứu khoa học; khu vực sản xuất, chế biến rau và hoa chất lƣợng cao; có vị trí quan trọng về an ninh và quốc phòng.
Đà Lạt - tên gọi từ khi ngƣời Pháp tìm ra cao nguyên Lang Bian. Cho đến nay, mặc dù có nhiều cách lý giải khác nhau về tên gọi này; song, phần lớn đều thống nhất với cách hiểu: Đạ là nƣớc/sông/suối, Lạt là Lạch (con suối của nhóm ngƣời Lạch1). Ông Phạm Khắc Hòe giải thích, “Đà” theo tiếng Cơ-ho là nƣớc/suối. “Lạt” là tên một bộ tộc ở dƣới chân núi Lang Bian.
Đà Lạt là suối của ngƣời Lạt…[…]…Đà Lạt là tên cấu thành từ 5 chữ cái đứng đầu của mỗi chữ trong câu latin: Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem có nghĩa là cho ngƣời này niềm vui cho ngƣời kia sức khỏe. Đó là một cách hiểu sai đi ý nghĩa thật của danh xƣng Đà Lạt” [Phạm Khắc Hòe, 1983, tr. Quan điểm của ông Phạm Khắc Hòe khá trùng hợp với ông M. Cunhac - Thị trƣởng ở Đà Lạt (từ năm 1916 - 1920): “Ở tại chỗ cái hồ nƣớc trƣớc đó, con suối nhỏ của bộ lạc ngƣời Lạch chảy qua và ngƣời ta đã gọi suối này là Đà Lạt (Da hay Dak tiếng Thƣợng nghĩa là nƣớc) và không hiểu lý do gì mà ngƣời ta đã thay thế danh xƣng Việt Nam và Cam Ly [Baudrit, A.
Cũng theo Mạc Đƣờng, “tên gọi Đà Lạt có nghĩa là con suối của ngƣời Lạt theo ngôn ngữ của ngƣời dân địa phƣơng lúc bấy giờ (theo tiếng Lạt, Đạ có nghĩa là nƣớc, Lạt là ngƣời Lạt” [Mạc Đƣờng, 1983, tr. - Tài nguyên thiên nhiên + Về khí hậu: Do ảnh hƣởng của độ cao và rừng thông bao bọc, Đà Lạt mang nhiều đặc tính của miền ôn đới: “Nhiệt độ trung bình tháng giao động trong khoảng 15,8 - 19,3°C, trong những tháng nóng nhất nhiệt độ không vượt quá 20°C, những tháng lạnh nhất nhiệt độ vẫn lớn hơn 14°C” [Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt, 2008, tr. Tính chất gió mùa cũng đƣợc phản ảnh rõ rệt trong đặc điểm khí hậu Đà Lạt (xem bảng 1, Phụ lục Chƣơng 1). 1 Nhóm Lạch là một trong 6 nhóm địa phƣơng của tộc ngƣời Cơ-ho.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Về thủy văn: Tại địa bàn Đà Lạt có trên 20 dòng suối với chiều dài hơn 4km, đều là những dòng suối đầu nguồn thuộc lƣu vực sông Đồng Nai, trong đó có 14 suối bắt nguồn từ độ cao trên 1. Là các suối đầu nguồn, nên số lƣợng các suối cạn chiếm trên 50% số dòng chảy. Chế độ dòng chảy ở Đà Lạt phụ thuộc vào khí hậu và phân ra hai mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa kiệt. Thời kỳ từ tháng 5 đến tháng 7 là mùa chuyển tiếp từ kiệt sang lũ trên các dòng suối của Đà Lạt.
+ Về thổ nhưỡng: Theo bảng phân loại mới dùng cho bản đồ đất của Việt Nam, các loại đất ở Đà Lạt thuộc hai nhóm chính: Nhóm đất feralit nâu đỏ rất thích hợp cho các giống cây công nghiệp dài ngày nhƣ cà phê, chè; Nhóm đất feralit vàng đỏ: là đất sắt nhôm hơi yếu, giàu caolimit và có màu vàng đỏ, nâu vàng hoặc nâu đỏ tạo thành nhóm đất feralit vàng đỏ chiếm hơn 90% diện tích đất toàn thành phố. Theo tài liệu điều tra của Phân viện quy hoạch thiết kế nông nghiệp miền Nam, trên đất feralit nâu đỏ khá phù hợp cho các loại hoa, sau hoa là cây dƣợc liệu a-ti-sô (artichoke), rau các loại xếp thứ 3 và cuối cùng là cây ăn quả. Trên đất feralit vàng đỏ, các cây trồng vì mục đích kinh doanh có thể cho lãi suất tuy không cao, nhƣng thứ tự vẫn xếp từ trên xuống là rau, cây ăn quả và cây hoa màu. Với sự hình thành và phát triển của đô thị Đà Lạt, nhu cầu về rau quả tăng lên, cƣ dân tới đây lập nghiệp đã khai thác các loại đất feralit, lập thành các vùng chuyên canh rau, hoa, cây ăn quả, cây công nghiệp.
+ Rừng và hệ động, thực vật: Từ lâu, các yếu tố tự nhiên đã góp phần hình thành nên một thảm thực vật đa dạng ở Đà Lạt, với các kiểu hình rừng khác nhau nhƣ: rừng lá kim, rừng thƣờng, rừng hỗn giao và trảng cỏ cây bụi. Trong phạm vi rừng cao nguyên Lang Bian, sự phân bố động, thực vật theo độ cao biểu hiện rất rõ nét.000 loài thực vật. Rừng ở Đà Lạt gồm thông 2 lá và 3 lá, riêng họ thông đất ở đây đã có 10 loài trong khi cả nƣớc chỉ có 11 loài [Champsoloix, R. Điểm dị biệt giữa Đà Lạt với nhiều thành phố khác ở Việt Nam - Đà Lạt là thành phố trong rừng, rừng trong thành phố tạo nên nét riêng, độc đáo của Đà Lạt.
Chính vì có mật độ che phủ cao nên đã có đƣợc một nền nhiệt lý tƣởng có thể coi thành phố nhƣ một máy điều hòa nhiệt độ khổng lồ. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đà Lạt đƣợc thiên nhiên ƣu đãi, trở thành nơi ƣớc đến, thu hút du khách từ nhiều nơi đến tham quan và thậm chí là cƣ trú, định cƣ. Cũng với vị trí này, từ thời cận đại, ngƣời Pháp đã có ý tƣởng xây dựng Đà Lạt làm nơi trú quân của binh lính Pháp và cố gắng đƣa Đà Lạt trở thành một trung tâm hành chính ở Đông Dƣơng: “Không ai có thể phủ nhận, Đà Lạt chiếm một vị trí đặc biệt thuận lợi ở Viễn Đông. Khí hậu, danh lam thắng cảnh, tiềm năng phát triển làm cho Đà Lạt thành một nơi đƣợc ƣu đãi, không nơi nào có thể so sánh đƣợc.
Đà Lạt có thể trở thành một nơi nghỉ mát ở Viễn Đông” [Lagisquest, J. Bên cạnh đó, “Đà Lạt là xứ sở của hoa, xứ sở của thông, xứ sở của rau… thích hợp cho sinh hoạt trí thức. Đà Lạt còn có vùng ven săn bắn lý tƣởng” [Munier, P. Sự khám phá và xây dựng Đà Lạt - Từ năm 1893 đến năm 1954: Trƣớc thế kỷ XX, khu vực cao nguyên Lâm Viên nói chung, Đà Lạt nói riêng vốn là địa bàn cƣ trú của các nhóm ngƣời Lạch, Chil, Srê thuộc dân tộc Cơ-ho sinh sống theo phƣơng thức du canh, du cƣ; trong đó, đông nhất là nhóm Lạch.
Với nhiệm vụ tìm hiểu thƣợng lƣu sông Đồng Nai, bác sĩ Paul Néis và trung úy Albert Septans có đến thăm một số làng ngƣời Lạch trên cao nguyên Lang Bian ngày 16-3-1881 và ghi chép đƣợc nhiều số đo khí tƣợng và nhân trắc học cƣ dân trong vùng. Ngày 21-6-1893, trong một chuyến thám hiểm vùng rừng núi ở Nam Trung Kỳ giữa biển Đông và sông Mê Công, đầu nguồn sông Đồng Nai và Xê Băng Can, bác sĩ A.Yersin2 đã đặt chân lên cao nguyên Lâm Viên. Nghỉ mát dƣỡng sức là nhu cầu cần thiết của ngƣời Pháp tại xứ nóng nhƣ Việt Nam: “Năm 1870, ngƣời Pháp đã thiết lập nơi nghỉ mát dƣỡng sức dành cho nhà binh tại Bà Rịa” [Baudrit, A. Sau chuyến đi Ấn Độ, Toàn quyền Paul Doumer nhận thấy cần phải thiết lập nơi nghỉ mát ở miền núi tƣơng tự nhƣ ở Ấn Độ rất lợi ích đối với những Pháp kiều bị đau yếu vì khí hậu nhiệt đới.
“Nhờ chuyến thám hiểm Lâm Viên năm 1893, A. Yersin đã đề xuất chọn cao nguyên Lâm Viên làm nơi nghỉ dƣỡng và đƣợc Toàn quyền Paul Doumer ghi nhận” [Ủy ban nhân dân 2 Alexandre Yersin sinh ngày 22-9-1869 tại Thụy Sĩ. Năm 24 tuổi, ông sang Pháp. Từ năm 1905 đến 1908, Yersin là Giám đốc Viện Pasteur Sài Gòn - Nha Trang.
Ông là một nhà y học, vi trùng học, nông học, mất ngày 1-3-1943 tại Nha Trang. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành phố Đà Lạt, 2008, tr. Ban đầu, địa điểm ngƣời Pháp chọn làm nơi nghỉ dƣỡng không phải là Đà Lạt ngày nay mà là khu vực Đankia. Năm 1897, Toàn quyền Paul Doumer đã cử một phái đoàn lên cao nguyên Lang Bian, dƣới sự chỉ huy của đại úy Thouard3.
Cho đến năm 1899, Toàn quyền Đông Dƣơng Paul Doumer đã ký Nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thƣợng với thủ phủ là Djiring và hai trạm hành chính là Tánh Linh (Bình Thuận) và Lâm Viên (đặt tại Đà Lạt ngày nay). Ngày 31-10-1920, Toàn quyền Maurice Long đã ký Nghị định thành lập khu tự trị Lâm Viên. Cùng ngày, một Nghị định khác của Toàn quyền Đông Dƣơng ấn định khu tự trị trên cao nguyên Lâm Viên thành thị xã Đà Lạt và xác định nâng Đà Lạt lên thành thị xã hạng hai [Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt, 2008, tr. Về tính chất, Đà Lạt đƣợc thiết kế xây dựng theo hƣớng đô thị sinh thái.
Mô hình đô thị sinh thái kiểu áp dụng ở Đà Lạt lúc bấy giờ chính là giữ nguyên đặc điểm cảnh quan tự nhiên. Điều đó thể hiện khá rõ nét qua các đồ án quy hoạch của các Thị trƣởng, kiến trúc sƣ, kĩ sƣ ngƣời Pháp trong thời kỳ này.