Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Việt ở Đà Lạt từ đầu thế kỷ XX đến nay" của nghiên cứu sinh Lê Thị Nhuấn (chuyên ngành Việt Nam học, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Hồng Tung) khảo sát lịch sử di cư, tụ cư và phát triển của cộng đồng người Việt tại cao nguyên Lang Bian. Về tính cấp thiết, Đà Lạt được người Pháp khám phá và quy hoạch từ cuối thế kỷ XIX với định hướng trở thành trung tâm nghỉ dưỡng ở Viễn Đông. Trong tiến trình phát triển đô thị hơn một thế kỷ, người Việt từ nhiều vùng miền khác nhau đã đến định cư, trở thành lực lượng cư dân đông đảo giữ vai trò quyết định đối với diện mạo kinh tế, xã hội của địa phương. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: trong khi các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các dân tộc bản địa tại chỗ (như tộc người Cơ-ho) hoặc thiên về khảo sát quy hoạch kiến trúc, địa lý cảnh quan, thì việc nghiên cứu toàn diện, liên ngành và hệ thống về cộng đồng người Việt tại đô thị này vẫn chưa được giải quyết đầy đủ.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là hướng đến nghiên cứu toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về cộng đồng người Việt ở Đà Lạt từ đầu thế kỷ XX đến nay trên các phương diện lịch sử hình thành, quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Để thực hiện mục tiêu này, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu làm rõ đặc điểm lịch sử của quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Đà Lạt qua các thời kỳ: từ đầu thế kỷ XX đến năm 1954, từ năm 1955 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, và từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến năm 2016. Làm rõ sự thay đổi về quy mô, cấu trúc và thành phần dân cư gắn với từng giai đoạn lịch sử của vùng Tây Nguyên và Việt Nam.
  2. Nghiên cứu, xác định nguyên nhân chuyển cư, định cư; tìm hiểu quá trình tạo ra dấu ấn văn hóa, tiếp thu và biến đổi văn hóa của người Việt ở Đà Lạt thông qua các tương tác phức hợp trong quá trình di cư, quần cư và phát triển cộng đồng.
  3. Đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của cộng đồng người Việt trên các phương diện kinh tế, cơ cấu dân cư, lao động, xã hội và văn hóa; từ đó đề xuất một số giải pháp với chính quyền địa phương về việc quy hoạch, bố trí địa bàn cư trú hướng tới phát triển bền vững.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Đặc trưng của cộng đồng người Việt ở Đà Lạt từ đầu thế kỷ XX đến năm 1954, từ năm 1955 đến năm 1975, và từ năm 1975 đến nay là gì?
  2. Quá trình thích ứng của cộng đồng người Việt trên các phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa được thể hiện như thế nào?
  3. Những tác động của cộng đồng người Việt trên các phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội từ đầu thế kỷ XX đến nay là gì?

Tương ứng với các câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu được xác lập:

  1. Đặc trưng của bộ phận người Việt ở Đà Lạt từ đầu thế kỷ XX đến năm 1954 đã có sự khác biệt về bản chất so với các bộ phận dân cư đến Đà Lạt từ năm 1955 đến năm 1975 và từ năm 1975 đến nay.
  2. Cộng đồng người Việt đã thích ứng được với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa ở Đà Lạt.
  3. Cộng đồng người Việt đã có những tác động đối với sự phát triển bền vững của Đà Lạt qua các chiều cạnh kinh tế, cơ cấu lao động, xã hội và văn hóa.

Về đối tượng nghiên cứu, luận án xác định là quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Việt ở Đà Lạt từ đầu thế kỷ XX đến năm 2016. Phạm vi không gian bao gồm toàn bộ địa bàn thành phố Đà Lạt (gồm 12 phường nội thành và 4 xã ngoại thành: Tà Nung, Xuân Thọ, Xuân Trường, Trạm Hành), trong đó tác giả điền dã chuyên sâu tại Phường 1, Phường 2, Phường 3, Phường 6, Phường 7, Phường 8, Phường 9, Phường 12, Xã Xuân Trường, Xã Trạm Hành và Tà Nung trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2016. Phạm vi thời gian được phân kỳ thành 3 giai đoạn: từ đầu thế kỷ XX đến năm 1954; từ năm 1955 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975; và từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Về cơ sở tài liệu gốc, tác giả tiến hành khảo cứu có hệ thống các phông lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV. Trong giai đoạn 1893-1945, Phông Tòa Khâm sứ Trung Kỳ (ký hiệu RSA) lưu trữ các hồ sơ phản ánh hoạt động hành chính, kinh tế tại Trung Kỳ và các tỉnh.

STT Lĩnh vực nghiên cứu Số công trình Tỷ lệ %
1 Cá nhân (Personnel) 04 0,066
2 Hành chính tổng quát (Administration générale) 19 0,310
3 Hành chính tỉnh (Administration provinciale) 02 0,033
4 Chính trị (Affaires politiques) 00 0,000
5 Tư pháp (Justice ou organisation générale de la justice) 01 0,016
6 Công chánh (Travaux publics) 16 0,260
7 Hầm mỏ (Mines) 00 0,000
8 Hỏa xa và vận tải (Chemins de fer – transports terrestres et aériens) 10 0,160
9 Bưu điện, vô tuyến điện và điện thoại (Postes, télégraphes et téléphones) 01 0,016
10 Thương mại, kỹ nghệ, du lịch (Commerce – industrie – tourisme) 01 0,016
11 Lao động, thuộc địa hóa, điền địa (Travail – colonisation – Régime foncier) 20 0,330
12 Nông nghiệp và lâm sản (Agriculture et forêts) 01 0,016
13 Hàng hải (Navigation) 00 0,000
14 Hải quân (Marine de guerre) 00 0,000
15 Quốc phòng (Affaires militaires) 00 0,000
16 Học chánh, khoa học và nghệ thuật (Instruction publique – sciences et arts) 00 0,000
17 Y tế và cứu tế (Services sanitaires et assistance publique) 00 0,000
18 Tài chính (Finances) 16 0,260
19 Quan thuế – Quan quản – Thuế gián thu (Douanes et régies) 00 0,000

Trong số tài liệu này, nhóm hồ sơ về lao động thuộc địa chiếm tỷ lệ cao nhất với 20 hồ sơ (tiêu biểu như hồ sơ 4088 về việc chuyển nhượng đất ở Đà Lạt năm 1925, 1928), hồ sơ hành chính tổng quát có 19 hồ sơ (như hồ sơ 1448 về thiết lập thị xã Đà Lạt năm 1922-1923; hồ sơ 1468 về thiết lập làng Trạm Hành; hồ sơ 3305 về xây dựng tuyến đường sắt Krông Pha - Đà Lạt), và chỉ có 04 hồ sơ cá nhân về nhân viên công vụ người Việt (các hồ sơ 400, 431, 573, 1106).

Đối với giai đoạn 1946-1975, tác giả khai thác Phông Phủ Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam (Bảo Đại) với 76 hồ sơ tài chính trên tổng số 1.350 hồ sơ (các hồ sơ 314, 360, 834, 880 về nhân sự và trợ cấp lương cho nhân sự người Việt và người bản địa); Phông Phủ Thủ hiến Trung Việt (1945-1954) gồm 311 hộp và 2.592 hồ sơ (tiêu biểu là hồ sơ 2479 về mộ nhân công lên cao nguyên miền Nam, hồ sơ 655 về Sắc lệnh số 28-QT/TD của Bảo Đại); và Phông Tòa Đại biểu Chính phủ tại Trung nguyên Trung phần (1954-1969) gồm 3.516 hồ sơ, trong đó các văn bản đề cập trực tiếp đến người Việt ở Đà Lạt chỉ có 05 hồ sơ (như tài liệu năm 1961 của Nha Đại diện Thông tin ghi nhận công trường thủy điện Đa Nhim có 2.000 nhân công người Việt).

Điểm luận các nghiên cứu về di dân trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Trên thế giới, tác giả điểm lại các nghiên cứu của Garrett Davis (1849), Lawrence Auster, Clark W. (1986), quy luật di dân của E. Ravenstein (1885, "The Law of migration"), mô hình của Everett Lee (1966) với lý thuyết lực "hút - đẩy", mô hình việc làm và di dân nông thôn - thành thị của Harris và Todaro (1970).
  • Tại Việt Nam, các nghiên cứu di dân được phân chia theo các nhóm: nghiên cứu di cư liên tỉnh, liên vùng của Đỗ Thị Minh Đức (2004), Đỗ Thị Minh Đức và Nguyễn Viết Thịnh (2008, 2010); nghiên cứu di cư nông thôn - đô thị của Đặng Nguyên Anh (1997), Tương Lai (1998), Doãn Mậu Diệp và Trịnh Khắc Thẩm (1998), Doãn Mậu Diệp (1998); nghiên cứu tác động của di dân của Thân Văn Liên (1997), Lê Văn Thành (1998), Đinh Quang Hà (2010); nghiên cứu mạng lưới xã hội và vốn xã hội của Đặng Nguyên Anh (2007), Phillip Guest (1998), Alejandro Portes (2003), Hoàng Bá Thịnh (2009).

Các công trình về người Việt ở Tây Nguyên gồm:

  • Học giả nước ngoài thời kỳ trước: G. Condominas ("Không gian xã hội vùng Đông Nam Á"), Gerald Hickey (1967, "The highlands people of South Vietnam: social and economic development").
  • Tiếp cận lịch sử: Đinh Văn Liên (1984), Đặng Thu (1994), Nguyễn Tấn Đắc (2005), Nguyễn Tuấn Triết (2007), Bùi Minh Đạo (2011), Nguyễn Văn Tiệp (2011), Phan An (2014), Nguyễn Duy Thụy (2016).
  • Tiếp cận dân tộc học và nhân học: Bế Viết Đẳng (1978, 1982), Đặng Nghiêm Vạn (1981, 1998), Lê Duy Đại (1982), Nguyễn Văn Huy (1984), Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1986, 1989), Chu Thái Sơn (1989), Andrew Hardy (2000), Khổng Diễn (2011), Bùi Minh Đạo (2012), Phạm Quang Hoan (2015), Lê Hồng Lý (2015).
  • Tiếp cận xã hội học: Đặng Nguyên Anh (2014), Hoàng Bá Thịnh (2015).

Các công trình nghiên cứu về Đà Lạt:

  • Trước năm 1955: Báo cáo khảo sát của Vassal (1907), L. Constantin (1916), Pierre Bouvard và F. Millet (1920), Le Chemineau (1916), đồ án của Ernest Hébrard (1923), Etienne Tardif (1899-1900), L. Pineau (1937), báo cáo của J. Lagisquet (1942).
  • Giai đoạn 1955-1975: Luận văn của Nguyễn Việt Dũng (1968, "Ấp Đa Thiện"), luận văn của Nguyễn Nhân Bằng (1970, "Sinh hoạt của các gia đình làm nghề trồng rau tại Đà Lạt khảo về Ấp Hà Đông"), chuyên khảo của nhóm giáo sư và sinh viên Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn và Viện Đại học Đà Lạt trên tạp chí Sử Địa (1971, "Đặc khảo Đà Lạt").
  • Từ năm 1976 đến nay: Sách chuyên khảo của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt (1993, "Đà Lạt thành phố cao nguyên"; 2008, "Địa chí Đà Lạt"), Nguyễn Hữu Tranh (2001, "Đà Lạt năm xưa"), Bùi Văn Hùng (2002), Trần Ngọc Trác (2013, "Duyên nợ Đà Lạt"), Eric T. Jennings (2015).

Vị trí của luận án: Các công trình nêu trên phần lớn tiếp cận đơn ngành, nghiên cứu về người bản địa thiểu số hoặc quy hoạch sinh thái, kiến trúc nghỉ dưỡng. Nghiên cứu của Lê Thị Nhuấn là công trình chuyên sâu đầu tiên sử dụng cách tiếp cận liên ngành của Khu vực học để làm sáng tỏ toàn bộ tiến trình lịch sử, sự thích ứng sinh thái, chuyển biến sinh kế và cấu trúc văn hóa - xã hội của cộng đồng người Việt tại Đà Lạt qua các thời kỳ lịch sử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về các khái niệm công cụ và thao tác hóa khái niệm:

  • Di dân và di cư: Luận án phân tích định nghĩa của Đặng Nguyên Anh (theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp) và Hoàng Văn Chức. Tác giả sử dụng thuật ngữ "di dân" để chỉ sự chuyển dịch gắn liền với định cư lâu dài, tạo lập sinh kế mới dựa trên sự kết hợp nguồn vốn sinh kế cũ và mới tại nơi đến. Không đưa khách du lịch ngắn hạn hay sinh viên lưu trú tạm thời vào đối tượng nghiên cứu chính.
  • Tộc người (Ethnic group): Dựa trên quan điểm của Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, Nguyễn Công Thảo và tiêu chí xác định thành phần dân tộc do Vương Xuân Tình tổng kết (gồm sự thống nhất về ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc người).
  • Cộng đồng (Community): Vận dụng định nghĩa của Trịnh Duy Luân và Nguyễn Văn Kim. Khái niệm cộng đồng người Việt tại Đà Lạt được xác định dựa trên quan hệ thân tộc, quan hệ xã hội, địa vực cư trú, nghề nghiệp và sự gắn kết văn hóa, tín ngưỡng.
  • Văn hóa, giao lưu và tiếp xúc văn hóa: Luận án tiếp cận định nghĩa văn hóa của Trần Quốc Vượng; khái niệm tiếp xúc và biến đổi văn hóa (acculturation) theo David Levinson (trích dẫn Thompson) và Kroeber.
  • Hệ khái niệm phân loại: Vận dụng các khái niệm "di dân con lắc" (Đặng Nguyên Anh, 2012), "di dân theo mùa vụ / di dân tạm thời", "di dân tự phát" và "di dân có tổ chức" (Đặng Nguyên Anh, 2007) để phân loại các luồng dân cư đến Đà Lạt.

Các lý thuyết được áp dụng:

  1. Lý thuyết và cách tiếp cận Khu vực học (Area studies): Vận dụng quan điểm của Phạm Hồng Tung (2017a). Coi khu vực là một không gian lịch sử - văn hóa xác định; áp dụng nguyên tắc liên ngành (lịch sử, địa lý nhân văn, văn hóa học, dân số học và sinh thái học nhân văn) nhằm đánh giá tổng hợp các nguồn lực và cung cấp luận cứ cho chính sách phát triển bền vững.
  2. Các mô hình và lý thuyết giải thích di dân:
    • Lý thuyết quy luật di dân của E. Ravenstein (1885).
    • Lý thuyết về áp lực đất nông nghiệp của Hawley (1950) và chênh lệch cơ hội việc làm, mức lương của Lewis (1954).
    • Mô hình lực "hút - đẩy" của Everett Lee (1966) dựa trên 4 nhóm yếu tố: nơi xuất phát, nơi đến, trở ngại trung gian và yếu tố cá nhân.
    • Mô hình di cư nông thôn - thành thị của Harris và Todaro (1970). Luận án nhận định các mô hình kinh tế thuần túy này chưa giải thích được các yếu tố phi kinh tế (như chiến tranh, chính trị, tôn giáo) trong các luồng di dân đến Đà Lạt trước năm 1975.
    • Lý thuyết mạng lưới xã hội (Social network) của Alejandro Portes (2003), W.W. Powell và L. Smith-Doerr (1994), Lê Đình Tấn (2005) giải thích vai trò của gia đình, thân tộc, đồng hương trong việc hỗ trợ cư dân định cư và tìm kiếm sinh kế.
  3. Lý thuyết Sinh thái học nhân văn: Vận dụng luận điểm của PT. Weiner, Georges Olivier (2002) và Trịnh Duy Luân (2009) để luận giải sự thích nghi của người Việt với môi trường tự nhiên cao nguyên (khí hậu ôn đới, đất dốc feralit) thông qua nghề làm vườn trồng rau hoa và dịch vụ du lịch.
  4. Lý thuyết Giao lưu và tiếp xúc văn hóa: Dựa vào các luận điểm của Thompson (David Levinson, 1996) và Kroeber để phân tích tương tác văn hóa giữa người Việt với cư dân bản địa Cơ-ho, người Pháp và người Hoa tại Đà Lạt.
  5. Lý thuyết Phát triển bền vững: Dựa trên các văn kiện quốc tế (Hội nghị Stockholm 1972, Ủy ban Brundtland 1987, Chương trình Nghị sự 21 tại Rio de Janeiro 1992, Hội nghị Johannesburg 2002) và 4 nguyên tắc phát triển bền vững do Phạm Hồng Tung (2017a) xác lập, đặt con người vào trung tâm, kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ cảnh quan môi trường và di sản đô thị.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp Khu vực học: Phương pháp chủ đạo nghiên cứu không gian văn hóa - xã hội Đà Lạt trong tính toàn thể.
  • Phương pháp lịch sử: Phục dựng tiến trình hình thành và phát triển của cộng đồng người Việt gắn liền với các mốc biến động lịch sử của đô thị Đà Lạt.
  • Phương pháp điền dã Dân tộc học: Thực hiện theo hai hình thức: "nghiên cứu điểm" tập trung vào các làng ấp di dân truyền thống như Hà Đông, Nghệ Tĩnh, các nhóm cư dân gốc Thừa Thiên - Huế; "nghiên cứu diện" bao quát toàn bộ 12 phường và 4 xã ngoại thành bằng các kỹ thuật quan sát, ghi chép, miêu tả, chụp ảnh.
  • Phương pháp xã hội học: Do nguồn số liệu thống kê di dân bằng bảng hỏi chỉ được chuẩn hóa từ năm 1989 và quy mô lịch sử trải dài từ đầu thế kỷ XX đòi hỏi dung lượng mẫu quá lớn không khả thi, luận án không phát phiếu an-két đại trà mà thực hiện phương pháp phỏng vấn sâu có chủ đích đối với 100 người, chia thành 3 nhóm đối tượng:
    • Nhóm 1: 05 cán bộ trực tiếp quản lý từ cấp tỉnh, thành phố đến cấp xã, phường.
    • Nhóm 2: 05 cán bộ chuyên trách các sở ban ngành liên quan và các nhà nghiên cứu độc lập.
    • Nhóm 3: 90 người dân đại diện cho các thế hệ cư dân tại các phường, xã, gồm 30 người thuộc các gia đình đến trước năm 1954, 30 người đến trong giai đoạn 1955-1975, và 30 người đến từ sau năm 1975 đến năm 2016.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu, tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày các đặc điểm tự nhiên, không gian địa lý, lịch sử đô thị và thành phần cư dân tại Đà Lạt:

  • Địa lý tự nhiên: Thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lang Bian (Lâm Viên), độ cao trung bình khoảng 1.500m so với mực nước biển, tọa độ từ 108°19’23’’Đ đến 108°36’27’’Đ và từ 11°48’36’’B đến 12°01’07’’B. Diện tích tự nhiên đạt 394,46 km², dân số năm 2015 là 220.251 người, mật độ dân số 558 người/km². Khí hậu mang tính chất ôn đới miền núi, nhiệt độ trung bình tháng từ 15,8°C đến 19,3°C (tháng nóng nhất không quá 20°C, tháng lạnh nhất không dưới 14°C). Thổ nhưỡng gồm hai nhóm đất feralit: feralit nâu đỏ thích hợp trồng chè, cà phê, cây dược liệu atisô, hoa; feralit vàng đỏ chiếm trên 90% diện tích thành phố, thích hợp phát triển rau, hoa màu và cây ăn quả. Thủy văn gồm hơn 20 dòng suối dài trên 4km thuộc lưu vực sông Đồng Nai, chia thành hai mùa lũ - kiệt rõ rệt. Rừng gồm thông hai lá và ba lá bao bọc, tạo nên cấu trúc "thành phố trong rừng, rừng trong thành phố".
  • Nguồn gốc tên gọi: Tác giả dẫn giải các tư liệu của Phạm Khắc Hòe (1983), thị trưởng M. Cunhac (1916-1920) và Mạc Đường (1983), khẳng định "Đà Lạt" bắt nguồn từ tiếng Cơ-ho ("Đạ" là nước/suối, "Lạt" là người Lạch - con suối của người Lạch). Luận án bác bỏ cách lý giải gán ghép câu khẩu hiệu tiếng Latin "Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem" (cho người này niềm vui, cho người kia sức khỏe) là sai lệch nguồn gốc thực tế.
  • Quá trình khám phá và xây dựng đô thị: Bác sĩ Paul Néis và trung úy Albert Septans khảo sát ngày 16 tháng 3 năm 1881; bác sĩ Alexandre Yersin đặt chân lên cao nguyên Lâm Viên ngày 21 tháng 6 năm 1893. Toàn quyền Paul Doumer quyết định chọn nơi đây xây dựng trạm nghỉ dưỡng. Toàn quyền ký Nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng năm 1899; Toàn quyền Maurice Long ký Nghị định thành lập thị xã Đà Lạt ngày 31 tháng 10 năm 1920. Giai đoạn 1950-1954 thuộc Hoàng triều cương thổ theo Sắc lệnh số 6 và Dụ số 4 QT/TD ngày 10 tháng 11 năm 1951 của Bảo Đại. Thời kỳ 1955-1975 trực thuộc Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, chuyển dần công năng sang trung tâm văn hóa, giáo dục và nghiên cứu khoa học. Sau năm 1975, địa giới được điều chỉnh qua Quyết định 116-CP (1979), Quyết định 67-HĐBT (1986); được công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Lâm Đồng theo Quyết định 373/QĐ-TTg ngày 23 tháng 3 năm 2009 và phê duyệt điều chỉnh quy hoạch đến năm 2030 theo Quyết định 704/QĐ-TTg ngày 12 tháng 5 năm 2014.
  • Các thành phần dân cư: Tộc người Cơ-ho (các nhóm Srê, Lạch, Chil); người Pháp (năm 1952 có 1.217 người Âu, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 thì hồi hương); người Hoa (năm 1935 có 333 người, năm 1944 có 360 người, năm 1952 có 752 người); và người Việt (chiếm 95,97% dân số theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009).

Chương 2. Quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Đà Lạt từ đầu thế kỷ XX đến năm 1954

Chương 2 làm rõ lịch sử tụ cư ban đầu của người Việt:

  • Lịch sử hình thành và các luồng dân cư: Đầu thế kỷ XX, người Việt đến Đà Lạt dưới các hình thức: phu mộ xây dựng các tuyến đường giao thông (như tuyến đường sắt Phan Rang - Tháp Chàm lên Krông Pha - Đà Lạt), phu trắc địa, công nhân làm việc tại các công sở hành chính, khách sạn, đồn điền chè Cầu Đất, nông trại Đankia. Giai đoạn 1938-1940 xuất hiện các đợt di dân quy mô có tổ chức để lập ấp làm nông nghiệp: ấp Hà Đông (thành lập năm 1938 do người dân các làng hoa ven Hà Nội di cư vào) và ấp Nghệ Tĩnh (thành lập năm 1940), tiếp đó là ấp Đa Lợi, Trạm Hành, Xuân Trường.
  • Đặc trưng người nhập cư: Phần lớn xuất thân từ nông dân nghèo các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và duyên hải miền Trung (Hà Đông, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên, Quảng Nam).
  • Nguyên nhân thúc đẩy: Về khách quan, do chính sách khai thác thuộc địa, nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng nghỉ dưỡng của chính quyền thực dân Pháp và chính sách mộ phu, mộ dân khai khẩn của chính quyền Bảo Đại trong thời kỳ Hoàng triều cương thổ. Về chủ quan, xuất phát từ nạn đói, nghèo khổ, thiếu ruộng đất canh tác tại quê gốc, thúc đẩy cư dân ra đi tìm kế sinh nhai mới.
  • Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội: Người Việt nhanh chóng thích nghi với khí hậu lạnh và đất dốc, tiếp thu giống rau ôn đới (bắp cải, súp lơ, cà rốt, khoai tây) và các loài hoa ngoại nhập do người Pháp đưa vào để tạo dựng sinh kế trồng rau hoa thương phẩm. Về xã hội và văn hóa, cộng đồng duy trì cấu trúc làng ấp truyền thống thông qua việc lập đình, đền, chùa và nhà thờ, giữ gìn phong tục quê hương cũ song song với việc tiếp nhận lối sống đô thị nghỉ dưỡng.

Chương 3. Quá trình phát triển của cộng đồng người Việt ở Đà Lạt từ năm 1955 đến nay

Chương 3 phân tích sự biến đổi của cộng đồng qua hai giai đoạn:

  • Giai đoạn 1955 - 1975: Bối cảnh sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 chứng kiến dòng người di cư từ miền Bắc vào miền Nam, trong đó có một bộ phận chuyển cư lên Đà Lạt thành lập các ấp mới như ấp Đa Thiện. Cùng với đó là các luồng di dân tị nạn chiến tranh từ các tỉnh miền Trung. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa mở rộng Đà Lạt thành trung tâm giáo dục, văn hóa và nghiên cứu khoa học quân sự - dân sự với sự ra đời của Viện Đại học Đà Lạt, Trường Võ bị Quốc gia, Giáo hoàng Học viện, Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử. Cơ cấu xã hội hình thành thêm tầng lớp trí thức, giáo chức, sinh viên, công chức và binh lính. Nông nghiệp hàng hóa phát triển mạnh nhờ mở rộng mạng lưới tiêu thụ rau hoa xuống Sài Gòn và các tỉnh phía Nam. Lối sống đô thị có sự thay đổi, xuất hiện kiểu kiến trúc nhà hộp nhiều tầng mái bằng làm biến dạng cảnh quan đô thị vườn truyền thống.
  • Giai đoạn từ sau 1975 đến 2016: Sau ngày giải phóng, thành phố tiếp nhận các đoàn cán bộ tiếp quản, bộ đội phục viên và các luồng dân cư di cư theo kế hoạch nhà nước từ các tỉnh phía Bắc (Hà Nội, Nam Định, Nghệ An, Hà Tĩnh...) cùng dòng di cư tự do từ duyên hải Nam Trung Bộ đến xây dựng các vùng kinh tế mới như Tà Nung, Xuân Thọ. Địa giới hành chính được chia tách và mở rộng (năm 1986 có 12 phường và 3 xã). Nền kinh tế chuyển đổi từ bao cấp sang kinh tế thị trường sau năm 1986, thúc đẩy du lịch - dịch vụ và chuyển dịch mạnh sang canh tác nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (trồng hoa, rau trong nhà kính, hệ thống tưới nhỏ giọt). Cấu trúc dân cư phân hóa đa dạng theo ngành nghề; tỷ lệ lao động dịch vụ và thương mại tăng nhanh, trình độ học vấn của người Việt được nâng cao rõ rệt.

Chương 4. Đặc điểm, khuynh hướng biến đổi và giải pháp phát triển bền vững cộng đồng người Việt ở Đà Lạt

Chương 4 đúc kết các thuộc tính, mối tương quan và đề xuất định hướng:

  • Bản sắc và đặc điểm: Cộng đồng người Việt tại Đà Lạt là cộng đồng đa nguồn gốc, được hợp thành từ cư dân của cả ba miền Bắc, Trung, Nam nhưng yếu tố Trung Bộ và Bắc Bộ chiếm ưu thế rõ nét. Nhờ sự thích ứng với điều kiện tự nhiên mát mẻ và tính chất đô thị nghỉ dưỡng, người Việt ở Đà Lạt hình thành lối sống hòa nhã, thanh lịch, mến khách và gắn bó mật thiết với cảnh quan thiên nhiên.
  • Tương quan với các đô thị Tây Nguyên: So sánh với các đô thị như Pleiku, Buôn Ma Thuột, Kon Tum (vốn mang tính chất trung tâm hành chính, quân sự hoặc phát triển cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê), cộng đồng người Việt tại Đà Lạt mang tính chất thị dân - nông dân độc đáo: vừa là cư dân đô thị dịch vụ du lịch, đào tạo, vừa là chủ thể của nền nông nghiệp chuyên canh rau hoa ôn đới kỹ thuật cao.
  • Tác động đa chiều: Về tích cực, người Việt đóng vai trò chủ đạo biến Đà Lạt từ vùng rừng núi hoang sơ thành đô thị loại I, trung tâm kinh tế, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao của cả nước. Về tiêu cực, sự gia tăng dân số và mật độ xây dựng tạo áp lực nặng nề lên hạ tầng; diện tích rừng thông tự nhiên bị thu hẹp; việc mở rộng nhà kính nông nghiệp làm suy giảm khả năng thẩm thấu nước, gia tăng nguy cơ lũ quét cục bộ và ô nhiễm nguồn nước do hóa chất bảo vệ thực vật.
  • Định hướng và giải pháp phát triển bền vững: Dựa trên số liệu dự báo dân số đến năm 2030 và Quy hoạch chung theo Quyết định 704/QĐ-TTg, luận án đề xuất các nhóm giải pháp: quy hoạch phân bố lại dân cư giữa nội thành và các xã vùng ven; kiểm soát mật độ xây dựng để bảo vệ quỹ đất rừng và không gian xanh; chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp công nghệ cao theo hướng giảm nhà kính, phát triển nông nghiệp hữu cơ; bảo tồn các di sản văn hóa, lối sống thanh lịch của người Đà Lạt trong quá trình đô thị hóa.

Kết quả và những đóng góp mới

Về ý nghĩa khoa học và lý luận:

  • Luận án vận dụng cách tiếp cận liên ngành của Khu vực học (kết hợp các phương pháp của lịch sử học, dân tộc học, văn hóa học, dân số học và sinh thái học nhân văn) để nghiên cứu một cộng đồng di dân đa nguồn gốc trong một không gian đô thị có tính chất sinh thái đặc thù.
  • Công trình bổ sung luận cứ thực tế chỉ ra giới hạn của các lý thuyết di dân phương Tây cổ điển (như của Ravenstein hay Harris - Todaro). Tác giả làm rõ: trong bối cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, các yếu tố phi kinh tế như thể chế chính trị (chế độ cai trị thuộc địa, cơ chế Hoàng triều cương thổ), chiến tranh, tôn giáo và sự định hướng của nhà nước giữ vai trò chi phối mạnh mẽ các luồng di chuyển dân cư, khác biệt với mô hình kinh tế thị trường thuần túy.

Về ý nghĩa thực tiễn:

  • Luận án hệ thống hóa nguồn tư liệu lưu trữ phong phú tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Phông RSA, Phông Bảo Đại, Phông Phủ Thủ hiến Trung Việt, Phông Tòa Đại biểu Chính phủ) và các số liệu điền dã phỏng vấn sâu 100 đối tượng đại diện cho các thế hệ cư dân và nhà quản lý.
  • Phục dựng bức tranh lịch sử di cư, tụ cư và chuyển biến sinh kế của cộng đồng người Việt ở Đà Lạt qua hơn một thế kỷ, từ thân phận phu phen, phu đồn điền đến vai trò chủ thể làm chủ đô thị hiện đại.
  • Cung cấp luận cứ thực tiễn cho các cấp chính quyền tỉnh Lâm Đồng và thành phố Đà Lạt trong việc quy hoạch không gian cư trú, quản lý di dân, bảo tồn cảnh quan kiến trúc đô thị di sản và xây dựng chiến lược phát triển bền vững kinh tế - xã hội đến năm 2030, tầm nhìn 2050.

Về kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Luận án kiến nghị chính quyền địa phương cần quản lý chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp và lâm nghiệp, hạn chế tối đa việc xâm lấn diện tích rừng thông tự nhiên.
  • Đề xuất quy hoạch sắp xếp lại các khu vực chuyên canh rau hoa; kiểm soát sự phát triển tự phát của mô hình nhà kính trong lòng đô thị nhằm bảo vệ cảnh quan và nguồn nước mặt.
  • Có chính sách hỗ trợ phát triển các ngành nghề dịch vụ du lịch chất lượng cao, khai thác giá trị văn hóa và lối sống thanh lịch của người Đà Lạt thành nguồn lực phát triển kinh tế bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Do đặc điểm lịch sử của số liệu thống kê di dân tại Việt Nam chỉ bắt đầu được thực hiện có hệ thống qua các kỳ Tổng điều tra dân số từ năm 1989 trở lại đây, trong khi phạm vi nghiên cứu kéo dài từ đầu thế kỷ XX, tác giả không thể sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi (an-két) đại trà cho toàn bộ tiến trình lịch sử mà phải dựa vào phỏng vấn sâu có chủ đích kết hợp tài liệu lưu trữ.
  • Nghiên cứu tập trung vào đối tượng cư dân định cư thường trú, chưa thể bao quát sâu các biến động xã hội và tác động của nhóm cư dân vãng lai tạm thời như khách du lịch ngắn hạn hay lực lượng học sinh, sinh viên các trường chuyên nghiệp.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Luận án gợi mở hướng nghiên cứu tiếp tục theo dõi biến động dân số và cơ cấu xã hội của cộng đồng người Việt khi thành phố Đà Lạt triển khai mở rộng không gian hành chính sang các huyện phụ cận (Lạc Dương, Đức Trọng, Đơn Dương, Lâm Hà) theo đồ án quy hoạch tổng thể đến năm 2030.
  • Đi sâu nghiên cứu sự biến đổi giá trị văn hóa gia đình, vốn xã hội và tâm lý cộng đồng của các thế hệ người Việt thứ ba, thứ tư sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt trong bối cảnh thương mại hóa du lịch và chuyển đổi số hiện nay.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và sinh viên các ngành Việt Nam học, Khu vực học, Lịch sử, Dân tộc học/Nhân học, Địa lý nhân văn và Xã hội học đô thị: Luận án cung cấp một mô hình vận dụng khung lý thuyết liên ngành của Khu vực học vào việc khảo sát một cộng đồng dân cư đô thị cụ thể; đồng thời là cẩm nang tra cứu thư mục, phông lưu trữ quý giá về Đà Lạt thời Pháp thuộc và thời kỳ 1954-1975.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và người làm chính sách: Cung cấp tư liệu thực chứng cho Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, Sở Xây dựng và Viện Quy hoạch đô thị trong công tác phân tích thực trạng dân cư, đánh giá tác động môi trường của các mô hình nông nghiệp công nghệ cao và lập quy hoạch phát triển bền vững thành phố Đà Lạt.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống hóa tài liệu lưu trữ tại Chương 1 (các bảng thống kê tài liệu Phông RSA, Phông Bảo Đại, Phông Phủ Thủ hiến Trung Việt); nội dung phục dựng các đợt di dân lập ấp nông nghiệp Hà Đông, Nghệ Tĩnh tại Chương 2; và các phân tích so sánh tương quan đô thị Tây Nguyên tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nguồn gốc tên gọi "Đà Lạt" được tác giả xác định trên cơ sở tư liệu lịch sử như thế nào? Trả lời: Căn cứ vào các tư liệu của cựu thị trưởng M. Cunhac (giai đoạn 1916-1920), khảo cứu của Phạm Khắc Hòe (1983) và nhà nghiên cứu Mạc Đường (1983), luận án xác định "Đà Lạt" xuất phát từ tiếng Cơ-ho: "Đạ" (hoặc Da/Dak) có nghĩa là nước/suối, "Lạt" là tên của nhóm người Lạch (một trong 6 nhóm địa phương thuộc tộc người Cơ-ho cư trú lâu đời dưới chân núi Lang Bian). Đà Lạt có nghĩa là "con suối của người Lạch". Luận án khẳng định cách giải thích ghép 5 chữ cái Latinh "Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem" là sự gán ghép về sau, không phản ánh nguồn gốc địa danh thực tế.

  2. Nguồn tư liệu lưu trữ thời Pháp thuộc (1893-1945) tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV về Đà Lạt tập trung chủ yếu vào những phương diện nào? Trả lời: Theo thống kê của tác giả tại Phông Tòa Khâm sứ Trung Kỳ (RSA), các tài liệu về Đà Lạt chiếm tỷ lệ nhỏ so với toàn bộ hồ sơ kinh tế - xã hội Trung Kỳ, tập trung chủ yếu vào 3 lĩnh vực phục vụ xây dựng trạm nghỉ mát: Lao động, thuộc địa hóa, điền địa (20 hồ sơ, chiếm 0,33%); Hành chính tổng quát (19 hồ sơ, chiếm 0,31%); và Công chánh (16 hồ sơ, chiếm 0,26%). Các hồ sơ cá nhân về nhân viên công vụ người Việt chỉ có 04 hồ sơ (chiếm 0,066%).

  3. Vì sao tác giả không sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu khảo sát (an-két) đại trà? Trả lời: Do chuỗi dữ liệu thống kê xã hội học chuẩn hóa về di dân tại Việt Nam chỉ bắt đầu được thực hiện từ năm 1989. Trong khi đó, đề tài nghiên cứu lịch sử cộng đồng từ đầu thế kỷ XX đến nay, đòi hỏi dung lượng mẫu hồi cố quá lớn vượt qua tính khả thi thực tế. Do đó, tác giả lựa chọn phương pháp phỏng vấn sâu có chủ đích 100 đối tượng thuộc 3 nhóm (cán bộ quản lý, chuyên gia/nhà nghiên cứu và người dân thuộc 3 thế hệ cư dân qua các thời kỳ) để bảo đảm tính xác thực của thông tin định tính.

  4. Cơ cấu thành phần dân tộc của thành phố Đà Lạt được ghi nhận như thế nào theo số liệu điều tra chính thức? Trả lời: Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, Đà Lạt có 29 thành phần dân tộc. Đến năm 2009, thành phố có 34 tộc người khác nhau và một số ít người nước ngoài. Trong đó, người Việt (Kinh) chiếm tỷ lệ áp đảo với 95,97% dân số, người Cơ-ho chiếm 1,68%, và người Hoa chiếm 0,81%.

  5. Tại sao các mô hình lý thuyết di dân cổ điển của Ravenstein hay Harris - Todaro không hoàn toàn phù hợp để giải thích quá trình di chuyển của người Việt đến Đà Lạt giai đoạn trước năm 1975? Trả lời: Các mô hình của Ravenstein hay Harris - Todaro xây dựng trên giả định động lực di dân nông thôn - thành thị thuần túy xuất phát từ yếu tố kinh tế (thu nhập chênh lệch, cơ hội việc làm). Trong khi đó, quá trình người Việt đến Đà Lạt trước năm 1975 chịu tác động sâu sắc bởi các yếu tố phi kinh tế như chính sách thuộc địa, quyết định hành chính lập ấp của chính quyền thực dân, quy chế Hoàng triều cương thổ của Bảo Đại, biến động quân sự và các dòng chuyển cư chính trị - tôn giáo sau Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Lê Thị Nhuấn đã phục dựng hệ thống và toàn diện tiến trình lịch sử hình thành, phát triển của cộng đồng người Việt tại đô thị Đà Lạt từ đầu thế kỷ XX đến năm 2016. Thông qua việc vận dụng cách tiếp cận liên ngành của Khu vực học, kết hợp khai thác nguồn tư liệu lưu trữ với điều tra phỏng vấn sâu thực địa, tác giả làm rõ quá trình thích ứng sinh thái nhân văn, chuyển biến sinh kế từ nông nghiệp chuyên canh rau hoa sang kinh tế dịch vụ du lịch, cùng đặc trưng văn hóa hòa nhập của cư dân. Công trình khẳng định vai trò chủ thể quyết định của người Việt đối với sự phát triển của thành phố, đồng thời nhận diện các tác động tiêu cực về môi trường sinh thái nảy sinh từ quá trình đô thị hóa nhanh chóng. Đây là tài liệu khoa học có độ tin cậy cao, cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch, quản lý không gian đô thị và xây dựng định hướng phát triển bền vững cho thành phố Đà Lạt trong các giai đoạn tiếp theo.