Luận án tiến sĩ quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người việt ở đà lạt từ đầu thế kỷ xx đến nay

Luận án tiến sĩ phân tích quá trình hình thành và phát triển của cộng đồng người việt ở đà lạt từ đầu thế kỷ xx đến nay, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Việt Nam Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2018

241
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.2. Các đặc điểm địa lý tự nhiên của Đà Lạt

1.3. Sự khám phá và xây dựng Đà Lạt

1.4. Các thành phần dân cư ở Đà Lạt

1.5. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.6. Nghiên cứu về di dân

1.7. Các công trình nghiên cứu về người Việt ở Tây Nguyên

1.8. Các công trình nghiên cứu về người Việt ở Đà Lạt

1.9. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.9.1. Các khái niệm công cụ và thao tác hóa khái niệm

1.9.2. Một số lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu

1.9.3. Phương pháp nghiên cứu

1.10. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở ĐÀ LẠT TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN NĂM 1954

2.1. Lịch sử hình thành người Việt ở Đà Lạt

2.2. Bối cảnh lịch sử

2.3. Những đợt người Việt đến Đà Lạt

2.4. Đặc trưng của người nhập cư

2.5. Nguyên nhân thúc đẩy người Việt đến Đà Lạt

2.5.1. Nguyên nhân khách quan

2.5.2. Nguyên nhân chủ quan

2.6. Đời sống của cộng đồng người Việt tại Đà Lạt

2.7. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở ĐÀ LẠT TỪ NĂM 1955 ĐẾN NAY

3.1. Thời kỳ từ năm 1955 đến năm 1975

3.1.1. Bối cảnh lịch sử

3.1.2. Những đợt người Việt đến Đà Lạt từ năm 1955 đến 1975

3.1.3. Thực trạng và nguyên nhân người Việt đến Đà Lạt

3.1.4. Đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của người Việt ở Đà Lạt

3.2. Thời kỳ từ năm 1975 đến nay

3.2.1. Bối cảnh lịch sử

3.2.2. Thực trạng người Việt đến Đà Lạt từ năm 1975 đến nay

3.2.3. Đặc trưng của người nhập cư ở Đà Lạt

3.2.4. Những chuyển biến kinh tế, xã hội, văn hóa

3.3. Tiểu kết

4. CHƯƠNG 4: ĐẶC ĐIỂM, KHUYNH HƯỚNG BIẾN ĐỔI VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở ĐÀ LẠT

4.1. Một số bản sắc của cộng đồng người Việt ở Đà Lạt

4.2. Đặc điểm của cộng đồng người Việt tại Đà Lạt

4.3. Người Việt ở Đà Lạt trong tương quan với người Việt tại các đô thị thuộc vùng Tây Nguyên

4.4. Tác động của cộng đồng người Việt đến Đà Lạt

4.5. Dự báo, định hướng và giải pháp phát triển bền vững cộng đồng người Việt ở Đà Lạt

4.6. Tiểu kết

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

0.5. Đóng góp của luận án

0.6. Bố cục của luận án

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quá Trình Hình Thành Cộng Đồng Người Việt Ở Đà Lạt

Cộng đồng người Việt ở Đà Lạt đã hình thành từ đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của Việt Nam. Đà Lạt, với khí hậu ôn đới và cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, đã thu hút nhiều người Việt từ các vùng miền khác nhau. Sự phát triển của cộng đồng này không chỉ phản ánh quá trình di cư mà còn là sự giao thoa văn hóa giữa các nhóm dân cư khác nhau.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử Hình Thành Cộng Đồng Người Việt

Đà Lạt được người Pháp phát hiện và xây dựng thành trung tâm nghỉ dưỡng vào cuối thế kỷ XIX. Sự phát triển này đã tạo điều kiện cho người Việt từ các vùng khác nhau di cư đến đây, hình thành nên một cộng đồng đa dạng về văn hóa và phong tục tập quán.

1.2. Những Đợt Người Việt Đến Đà Lạt

Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều đợt di cư đã diễn ra, chủ yếu từ miền Bắc và miền Trung. Những người này không chỉ tìm kiếm cơ hội kinh tế mà còn mong muốn xây dựng cuộc sống mới trong môi trường thiên nhiên trong lành của Đà Lạt.

II. Vấn Đề và Thách Thức Của Cộng Đồng Người Việt Ở Đà Lạt

Mặc dù cộng đồng người Việt ở Đà Lạt đã phát triển mạnh mẽ, nhưng họ cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Những vấn đề như sự hòa nhập văn hóa, bảo tồn bản sắc và phát triển kinh tế bền vững là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Thách Thức Về Văn Hóa và Bản Sắc

Sự đa dạng văn hóa trong cộng đồng người Việt đã tạo ra những thách thức trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa. Nhiều phong tục tập quán có nguy cơ bị mai một do sự giao thoa với các nền văn hóa khác.

2.2. Vấn Đề Kinh Tế và Xã Hội

Cộng đồng người Việt ở Đà Lạt cũng phải đối mặt với những khó khăn trong việc phát triển kinh tế. Sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp lớn và sự thay đổi trong nhu cầu thị trường đã ảnh hưởng đến sinh kế của nhiều hộ gia đình.

III. Phương Pháp Phát Triển Bền Vững Cộng Đồng Người Việt Ở Đà Lạt

Để phát triển bền vững, cộng đồng người Việt cần áp dụng các phương pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo tồn văn hóa. Các giải pháp này bao gồm việc phát triển du lịch cộng đồng và khuyến khích sản xuất nông nghiệp sạch.

3.1. Phát Triển Du Lịch Cộng Đồng

Du lịch cộng đồng không chỉ giúp tăng thu nhập cho người dân mà còn tạo cơ hội để giới thiệu văn hóa đặc sắc của người Việt đến với du khách. Các hoạt động như tổ chức lễ hội, giới thiệu ẩm thực truyền thống sẽ thu hút sự quan tâm của du khách.

3.2. Khuyến Khích Sản Xuất Nông Nghiệp Sạch

Việc phát triển nông nghiệp sạch sẽ không chỉ đảm bảo an toàn thực phẩm mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Cộng đồng cần được hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính để chuyển đổi sang các phương pháp canh tác bền vững.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Về Cộng Đồng Người Việt Ở Đà Lạt

Nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở Đà Lạt đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực trong việc phát triển kinh tế và văn hóa. Những ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu này có thể giúp chính quyền địa phương đưa ra các chính sách phù hợp.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Đời Sống Kinh Tế

Nghiên cứu cho thấy rằng cộng đồng người Việt đã có những bước tiến đáng kể trong việc cải thiện đời sống kinh tế. Nhiều hộ gia đình đã chuyển đổi sang các mô hình sản xuất hiệu quả hơn, từ đó nâng cao thu nhập.

4.2. Ứng Dụng Chính Sách Phát Triển

Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chính sách phát triển bền vững cho cộng đồng người Việt. Chính quyền địa phương cần lắng nghe ý kiến của người dân để đưa ra các giải pháp phù hợp.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Cộng Đồng Người Việt Ở Đà Lạt

Cộng đồng người Việt ở Đà Lạt đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển dài lâu. Tương lai của cộng đồng này phụ thuộc vào khả năng thích ứng với những thay đổi trong xã hội và môi trường.

5.1. Tương Lai Của Cộng Đồng Người Việt

Với những nỗ lực trong việc phát triển bền vững, cộng đồng người Việt có thể tiếp tục đóng góp vào sự phát triển của Đà Lạt. Việc bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế song song sẽ là chìa khóa cho sự thành công.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ

Chính quyền địa phương cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể cho cộng đồng người Việt, từ việc đào tạo nghề đến hỗ trợ tài chính cho các dự án phát triển. Điều này sẽ giúp cộng đồng phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan địa bàn nghiên cứu, tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 2. Quá trình hình thành cộng đồng ngƣời Việt ở Đà Lạt từ đầu thế kỷ XX đến năm 1954 Chương 3. Quá trình phát triển của cộng đồng ngƣời Việt ở Đà Lạt từ năm 1955 đến nay Chương 4.

Đặc điểm, khuynh hƣớng biến đổi và giải pháp phát triển bền vững cộng đồng ngƣời Việt ở Đà Lạt 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 1. Các đặc điểm địa lý tự nhiên của Đà Lạt - Vị trí địa lý và tên gọi: Đà Lạt là tỉnh lỵ của Lâm Đồng, tọa lạc ở độ cao trung bình khoảng 1.500m so với mặt nƣớc biển, có tọa độ địa lý: kinh độ từ 108019’23’’ đông đến 108036’27’’; vĩ độ: từ 11048’36’’ Bắc đến 12001’07’’ Bắc, không có đƣờng địa giới hành chính chung với các tỉnh lân cận.

Diện tích tự nhiên của Đà Lạt là 394,46km2, dân số là 220.251 ngƣời, mật độ dân số 558 ngƣời/km2 (năm 2015). Hiện nay, thành phố Đà Lạt gồm có 12 phƣờng, đƣợc đánh số từ phƣờng 1 đến phƣờng 12 và 4 xã ngoại thành gồm Tà Nung, Xuân Thọ, Xuân Trƣờng, Trạm Hành [Cục Thống kê Lâm Đồng, 2015] (xem hình 1. Bản đồ hành chính thành phố Đà Lạt “Nguồn: Tác giả Luận án” 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo phân loại đô thị toàn quốc, Đà Lạt là đô thị loại I. Đối với Lâm Đồng, Đà Lạt đƣợc xác định có 5 tính chất quan trọng là: Tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng; trung tâm du lịch - nghỉ dƣỡng; trung tâm đào tạo đa ngành, nghiên cứu khoa học; khu vực sản xuất, chế biến rau và hoa chất lƣợng cao; có vị trí quan trọng về an ninh và quốc phòng.

Đà Lạt - tên gọi từ khi ngƣời Pháp tìm ra cao nguyên Lang Bian. Cho đến nay, mặc dù có nhiều cách lý giải khác nhau về tên gọi này; song, phần lớn đều thống nhất với cách hiểu: Đạ là nƣớc/sông/suối, Lạt là Lạch (con suối của nhóm ngƣời Lạch1). Ông Phạm Khắc Hòe giải thích, “Đà” theo tiếng Cơ-ho là nƣớc/suối. “Lạt” là tên một bộ tộc ở dƣới chân núi Lang Bian.

Đà Lạt là suối của ngƣời Lạt…[…]…Đà Lạt là tên cấu thành từ 5 chữ cái đứng đầu của mỗi chữ trong câu latin: Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem có nghĩa là cho ngƣời này niềm vui cho ngƣời kia sức khỏe. Đó là một cách hiểu sai đi ý nghĩa thật của danh xƣng Đà Lạt” [Phạm Khắc Hòe, 1983, tr. Quan điểm của ông Phạm Khắc Hòe khá trùng hợp với ông M. Cunhac - Thị trƣởng ở Đà Lạt (từ năm 1916 - 1920): “Ở tại chỗ cái hồ nƣớc trƣớc đó, con suối nhỏ của bộ lạc ngƣời Lạch chảy qua và ngƣời ta đã gọi suối này là Đà Lạt (Da hay Dak tiếng Thƣợng nghĩa là nƣớc) và không hiểu lý do gì mà ngƣời ta đã thay thế danh xƣng Việt Nam và Cam Ly [Baudrit, A.

Cũng theo Mạc Đƣờng, “tên gọi Đà Lạt có nghĩa là con suối của ngƣời Lạt theo ngôn ngữ của ngƣời dân địa phƣơng lúc bấy giờ (theo tiếng Lạt, Đạ có nghĩa là nƣớc, Lạt là ngƣời Lạt” [Mạc Đƣờng, 1983, tr. - Tài nguyên thiên nhiên + Về khí hậu: Do ảnh hƣởng của độ cao và rừng thông bao bọc, Đà Lạt mang nhiều đặc tính của miền ôn đới: “Nhiệt độ trung bình tháng giao động trong khoảng 15,8 - 19,3°C, trong những tháng nóng nhất nhiệt độ không vượt quá 20°C, những tháng lạnh nhất nhiệt độ vẫn lớn hơn 14°C” [Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt, 2008, tr. Tính chất gió mùa cũng đƣợc phản ảnh rõ rệt trong đặc điểm khí hậu Đà Lạt (xem bảng 1, Phụ lục Chƣơng 1). 1 Nhóm Lạch là một trong 6 nhóm địa phƣơng của tộc ngƣời Cơ-ho.

12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Về thủy văn: Tại địa bàn Đà Lạt có trên 20 dòng suối với chiều dài hơn 4km, đều là những dòng suối đầu nguồn thuộc lƣu vực sông Đồng Nai, trong đó có 14 suối bắt nguồn từ độ cao trên 1. Là các suối đầu nguồn, nên số lƣợng các suối cạn chiếm trên 50% số dòng chảy. Chế độ dòng chảy ở Đà Lạt phụ thuộc vào khí hậu và phân ra hai mùa rõ rệt: mùa lũ và mùa kiệt. Thời kỳ từ tháng 5 đến tháng 7 là mùa chuyển tiếp từ kiệt sang lũ trên các dòng suối của Đà Lạt.

+ Về thổ nhưỡng: Theo bảng phân loại mới dùng cho bản đồ đất của Việt Nam, các loại đất ở Đà Lạt thuộc hai nhóm chính: Nhóm đất feralit nâu đỏ rất thích hợp cho các giống cây công nghiệp dài ngày nhƣ cà phê, chè; Nhóm đất feralit vàng đỏ: là đất sắt nhôm hơi yếu, giàu caolimit và có màu vàng đỏ, nâu vàng hoặc nâu đỏ tạo thành nhóm đất feralit vàng đỏ chiếm hơn 90% diện tích đất toàn thành phố. Theo tài liệu điều tra của Phân viện quy hoạch thiết kế nông nghiệp miền Nam, trên đất feralit nâu đỏ khá phù hợp cho các loại hoa, sau hoa là cây dƣợc liệu a-ti-sô (artichoke), rau các loại xếp thứ 3 và cuối cùng là cây ăn quả. Trên đất feralit vàng đỏ, các cây trồng vì mục đích kinh doanh có thể cho lãi suất tuy không cao, nhƣng thứ tự vẫn xếp từ trên xuống là rau, cây ăn quả và cây hoa màu. Với sự hình thành và phát triển của đô thị Đà Lạt, nhu cầu về rau quả tăng lên, cƣ dân tới đây lập nghiệp đã khai thác các loại đất feralit, lập thành các vùng chuyên canh rau, hoa, cây ăn quả, cây công nghiệp.

+ Rừng và hệ động, thực vật: Từ lâu, các yếu tố tự nhiên đã góp phần hình thành nên một thảm thực vật đa dạng ở Đà Lạt, với các kiểu hình rừng khác nhau nhƣ: rừng lá kim, rừng thƣờng, rừng hỗn giao và trảng cỏ cây bụi. Trong phạm vi rừng cao nguyên Lang Bian, sự phân bố động, thực vật theo độ cao biểu hiện rất rõ nét.000 loài thực vật. Rừng ở Đà Lạt gồm thông 2 lá và 3 lá, riêng họ thông đất ở đây đã có 10 loài trong khi cả nƣớc chỉ có 11 loài [Champsoloix, R. Điểm dị biệt giữa Đà Lạt với nhiều thành phố khác ở Việt Nam - Đà Lạt là thành phố trong rừng, rừng trong thành phố tạo nên nét riêng, độc đáo của Đà Lạt.

Chính vì có mật độ che phủ cao nên đã có đƣợc một nền nhiệt lý tƣởng có thể coi thành phố nhƣ một máy điều hòa nhiệt độ khổng lồ. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đà Lạt đƣợc thiên nhiên ƣu đãi, trở thành nơi ƣớc đến, thu hút du khách từ nhiều nơi đến tham quan và thậm chí là cƣ trú, định cƣ. Cũng với vị trí này, từ thời cận đại, ngƣời Pháp đã có ý tƣởng xây dựng Đà Lạt làm nơi trú quân của binh lính Pháp và cố gắng đƣa Đà Lạt trở thành một trung tâm hành chính ở Đông Dƣơng: “Không ai có thể phủ nhận, Đà Lạt chiếm một vị trí đặc biệt thuận lợi ở Viễn Đông. Khí hậu, danh lam thắng cảnh, tiềm năng phát triển làm cho Đà Lạt thành một nơi đƣợc ƣu đãi, không nơi nào có thể so sánh đƣợc.

Đà Lạt có thể trở thành một nơi nghỉ mát ở Viễn Đông” [Lagisquest, J. Bên cạnh đó, “Đà Lạt là xứ sở của hoa, xứ sở của thông, xứ sở của rau… thích hợp cho sinh hoạt trí thức. Đà Lạt còn có vùng ven săn bắn lý tƣởng” [Munier, P. Sự khám phá và xây dựng Đà Lạt - Từ năm 1893 đến năm 1954: Trƣớc thế kỷ XX, khu vực cao nguyên Lâm Viên nói chung, Đà Lạt nói riêng vốn là địa bàn cƣ trú của các nhóm ngƣời Lạch, Chil, Srê thuộc dân tộc Cơ-ho sinh sống theo phƣơng thức du canh, du cƣ; trong đó, đông nhất là nhóm Lạch.

Với nhiệm vụ tìm hiểu thƣợng lƣu sông Đồng Nai, bác sĩ Paul Néis và trung úy Albert Septans có đến thăm một số làng ngƣời Lạch trên cao nguyên Lang Bian ngày 16-3-1881 và ghi chép đƣợc nhiều số đo khí tƣợng và nhân trắc học cƣ dân trong vùng. Ngày 21-6-1893, trong một chuyến thám hiểm vùng rừng núi ở Nam Trung Kỳ giữa biển Đông và sông Mê Công, đầu nguồn sông Đồng Nai và Xê Băng Can, bác sĩ A.Yersin2 đã đặt chân lên cao nguyên Lâm Viên. Nghỉ mát dƣỡng sức là nhu cầu cần thiết của ngƣời Pháp tại xứ nóng nhƣ Việt Nam: “Năm 1870, ngƣời Pháp đã thiết lập nơi nghỉ mát dƣỡng sức dành cho nhà binh tại Bà Rịa” [Baudrit, A. Sau chuyến đi Ấn Độ, Toàn quyền Paul Doumer nhận thấy cần phải thiết lập nơi nghỉ mát ở miền núi tƣơng tự nhƣ ở Ấn Độ rất lợi ích đối với những Pháp kiều bị đau yếu vì khí hậu nhiệt đới.

“Nhờ chuyến thám hiểm Lâm Viên năm 1893, A. Yersin đã đề xuất chọn cao nguyên Lâm Viên làm nơi nghỉ dƣỡng và đƣợc Toàn quyền Paul Doumer ghi nhận” [Ủy ban nhân dân 2 Alexandre Yersin sinh ngày 22-9-1869 tại Thụy Sĩ. Năm 24 tuổi, ông sang Pháp. Từ năm 1905 đến 1908, Yersin là Giám đốc Viện Pasteur Sài Gòn - Nha Trang.

Ông là một nhà y học, vi trùng học, nông học, mất ngày 1-3-1943 tại Nha Trang. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành phố Đà Lạt, 2008, tr. Ban đầu, địa điểm ngƣời Pháp chọn làm nơi nghỉ dƣỡng không phải là Đà Lạt ngày nay mà là khu vực Đankia. Năm 1897, Toàn quyền Paul Doumer đã cử một phái đoàn lên cao nguyên Lang Bian, dƣới sự chỉ huy của đại úy Thouard3.

Cho đến năm 1899, Toàn quyền Đông Dƣơng Paul Doumer đã ký Nghị định thành lập tỉnh Đồng Nai Thƣợng với thủ phủ là Djiring và hai trạm hành chính là Tánh Linh (Bình Thuận) và Lâm Viên (đặt tại Đà Lạt ngày nay). Ngày 31-10-1920, Toàn quyền Maurice Long đã ký Nghị định thành lập khu tự trị Lâm Viên. Cùng ngày, một Nghị định khác của Toàn quyền Đông Dƣơng ấn định khu tự trị trên cao nguyên Lâm Viên thành thị xã Đà Lạt và xác định nâng Đà Lạt lên thành thị xã hạng hai [Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt, 2008, tr. Về tính chất, Đà Lạt đƣợc thiết kế xây dựng theo hƣớng đô thị sinh thái.

Mô hình đô thị sinh thái kiểu áp dụng ở Đà Lạt lúc bấy giờ chính là giữ nguyên đặc điểm cảnh quan tự nhiên. Điều đó thể hiện khá rõ nét qua các đồ án quy hoạch của các Thị trƣởng, kiến trúc sƣ, kĩ sƣ ngƣời Pháp trong thời kỳ này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ