Quá Trình Người Nông Dân Nam Định Trở Thành Công Nhân Trong Doanh Nghiệp FDI

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh quá trình người nông dân nam định trở thành công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2013

123
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1. Công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định

1.2. Công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của họ trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta

1.3. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định

1.4. Những nhân tố cơ bản tác động vào quá trình nông dân trở thành công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.5. Quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở nước ta và sự xuất hiện thành phần kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.6. Nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta trong những năm gần đây

1.7. Chính sách phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất

1.8. Chính sách thu hồi đất nông nghiệp cho quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa

1.9. Một số nhân tố xã hội khác

2. CHƯƠNG 2: NÔNG DÂN NAM ĐỊNH TRỞ THÀNH CÔNG NHÂN TRONG DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

2.1. Thực trạng quá trình trở thành công nhân của người nông dân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định

2.2. Nhu cầu nhân lực lao động công nghiệp tại Nam Định trong những năm gần đây

2.3. Quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế của Nam Định và sự phát triển các doanh nghiệp FDI

2.4. Chính sách phát triển các khu công nghiệp của Nam Định

2.5. Chính sách thu hồi đất nông nghiệp tại Nam Định

2.6. Một số nhân tố xã hội khác của quá trình trở thành công nhân của nông dân Nam Định

2.7. Những hạn chế, khó khăn và những vấn đề đặt ra trong quá trình nông dân trở thành công nhân trong các doanh nghiệp FDI tại Nam Định

2.8. Những khó khăn và hạn chế của người nông dân khi trở thành công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định

2.9. Những vấn đề đặt ra từ quá trình nông dân trở thành công nhân ở Nam Định

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM LÀNH MẠNH HÓA QUÁ TRÌNH NÔNG DÂN TRỞ THÀNH CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI NAM ĐỊNH HIỆN NAY

3.1. Vận dụng quan điểm của Đảng về xây dựng công nhân trong tình hình mới vào thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nam Định

3.2. Giải pháp nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định hiện nay

3.3. Giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu cao của công nghiệp hóa hiện đại hóa với những hạn chế của tư tưởng tiểu nông

3.4. Giải quyết mâu thuẫn giữa đòi hỏi của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với chính sách đãi ngộ người công nhân của họ

3.5. Giải quyết mâu thuẫn giữa sự tăng lên nhanh chóng về số lượng công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự bất cập của tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp

3.6. Giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu việc làm của người nông dân nông thôn với chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh

3.7. Giải quyết mâu thuẫn giữa viễn cảnh và hiện trạng của người nông dân sau khi trở thành công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quá Trình Chuyển Đổi Nông Dân Thành Công Nhân Tại Nam Định

Quá trình chuyển đổi từ nông dân thành công nhân tại Nam Định trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang diễn ra mạnh mẽ. Sự chuyển đổi này không chỉ phản ánh sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế mà còn là một phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh. Nông dân, với nguồn lực lao động dồi dào, đang dần chuyển mình để thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động công nghiệp. Điều này không chỉ tạo ra cơ hội việc làm mà còn góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại địa phương.

1.1. Đặc Điểm Của Nông Dân Tại Nam Định

Nông dân tại Nam Định chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, với nhiều người có kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, sự phát triển của các doanh nghiệp FDI đã tạo ra nhu cầu về lao động có kỹ năng và trình độ cao hơn. Điều này đặt ra thách thức cho nông dân trong việc nâng cao tay nghề và thích ứng với môi trường làm việc mới.

1.2. Vai Trò Của Doanh Nghiệp FDI Trong Quá Trình Chuyển Đổi

Doanh nghiệp FDI đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Họ không chỉ cung cấp công việc mà còn đầu tư vào đào tạo nghề cho nông dân, giúp họ nâng cao kỹ năng và khả năng làm việc trong môi trường công nghiệp. Điều này góp phần thúc đẩy sự chuyển đổi từ nông dân thành công nhân một cách hiệu quả.

II. Những Thách Thức Trong Quá Trình Chuyển Đổi Nông Dân Thành Công Nhân

Mặc dù quá trình chuyển đổi từ nông dân thành công nhân mang lại nhiều cơ hội, nhưng cũng tồn tại không ít thách thức. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp FDI, trong khi đó, nhiều nông dân vẫn còn bỡ ngỡ với môi trường làm việc mới. Các vấn đề xã hội như điều kiện sống, kỷ luật lao động cũng cần được giải quyết để đảm bảo sự thành công của quá trình này.

2.1. Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Chưa Đáp Ứng

Nhiều nông dân thiếu kỹ năng và kiến thức cần thiết để làm việc trong môi trường công nghiệp. Điều này dẫn đến việc họ gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp và duy trì công việc lâu dài. Các doanh nghiệp FDI cần có các chương trình đào tạo nghề để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

2.2. Vấn Đề Xã Hội Và Kỷ Luật Lao Động

Sự chuyển đổi này cũng đặt ra nhiều vấn đề xã hội, như điều kiện sống của công nhân, mối quan hệ giữa công nhân và doanh nghiệp. Kỷ luật lao động trong môi trường công nghiệp cũng là một thách thức lớn đối với nhiều nông dân khi họ lần đầu tiên làm việc trong các doanh nghiệp.

III. Phương Pháp Đào Tạo Nghề Cho Nông Dân Tại Nam Định

Để hỗ trợ quá trình chuyển đổi từ nông dân thành công nhân, việc đào tạo nghề là rất cần thiết. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động và đặc thù của từng vùng. Việc hợp tác giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo sẽ giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

3.1. Các Chương Trình Đào Tạo Nghề Hiện Có

Hiện nay, nhiều chương trình đào tạo nghề đã được triển khai tại Nam Định, nhằm nâng cao kỹ năng cho nông dân. Các chương trình này thường tập trung vào các ngành nghề có nhu cầu cao trong các doanh nghiệp FDI, như sản xuất, chế biến thực phẩm, và công nghệ thông tin.

3.2. Hợp Tác Giữa Doanh Nghiệp Và Cơ Sở Đào Tạo

Sự hợp tác giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo là rất quan trọng. Doanh nghiệp có thể cung cấp thông tin về nhu cầu lao động, trong khi các cơ sở đào tạo có thể thiết kế chương trình học phù hợp. Điều này sẽ giúp nông dân có được kỹ năng cần thiết để làm việc trong môi trường công nghiệp.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Quá Trình Chuyển Đổi Tại Nam Định

Quá trình chuyển đổi từ nông dân thành công nhân không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn cho toàn bộ nền kinh tế của tỉnh Nam Định. Sự gia tăng số lượng công nhân có kỹ năng sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương. Các doanh nghiệp FDI cũng sẽ được hưởng lợi từ nguồn lao động chất lượng cao.

4.1. Tác Động Đến Nền Kinh Tế Địa Phương

Sự chuyển đổi này đã tạo ra một lực lượng lao động mới, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất. Điều này không chỉ giúp các doanh nghiệp FDI phát triển mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh Nam Định.

4.2. Lợi Ích Cho Người Lao Động

Người lao động, sau khi được đào tạo và làm việc trong các doanh nghiệp FDI, sẽ có cơ hội nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống. Họ cũng sẽ có cơ hội phát triển nghề nghiệp và tích lũy kinh nghiệm trong môi trường làm việc chuyên nghiệp.

V. Kết Luận Về Quá Trình Chuyển Đổi Nông Dân Thành Công Nhân Tại Nam Định

Quá trình chuyển đổi từ nông dân thành công nhân tại Nam Định là một xu hướng tất yếu trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mặc dù còn nhiều thách thức, nhưng với sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp FDI và các chương trình đào tạo nghề, quá trình này có thể được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa. Tương lai của người lao động nông thôn tại Nam Định sẽ sáng sủa hơn nếu các chính sách và giải pháp phù hợp được triển khai.

5.1. Triển Vọng Tương Lai Của Người Lao Động

Với sự phát triển của các doanh nghiệp FDI, người lao động nông thôn có nhiều cơ hội hơn để tham gia vào thị trường lao động công nghiệp. Điều này không chỉ giúp họ cải thiện thu nhập mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống.

5.2. Các Giải Pháp Để Thúc Đẩy Quá Trình Chuyển Đổi

Cần có các giải pháp đồng bộ từ chính quyền địa phương, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo để hỗ trợ người lao động trong quá trình chuyển đổi. Việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề và cải thiện điều kiện làm việc sẽ là những yếu tố quyết định cho sự thành công của quá trình này.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh quá trình người nông dân nam định trở thành công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương, 6 tiết. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ươn 1 CÔNG NHÂN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP V N ĐẦU TƯ TRỰ TI P NƯ NGOÀI 1. ôn n ân tron á do n n ệp ó vốn đầu tư trự t ếp nướ n o tạ N m Địn 1. Côn n ân tron các doan n p có vốn đầu tư trực t ếp nước ngoài và va trò của ọ tron sự n p đẩ mạn côn n p óa, n đạ óa nước ta * Giai cấp công nhân Theo C.Ăngghen, Giai cấp vô sản (giai cấp công nhân) là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột dưới hình thức chiếm đoạt giá trị thặng dư.

Dựa trên trình độ phát triển của chủ nghĩa tư bản đương thời, C.Ăngghen cho rằng: “Giai cấp vô sản là giai cấp những người công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống” [32, tr. Trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân chủ yếu nhận được lợi ích kinh tế dưới hình thức tiền công - số tiền trả cho thời gian lao động thực tế của người công nhân trong các nhà máy của tư bản. Nhưng đó cũng là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất hiện đại có sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng thành công CNXH và CNCS trên phạm vi toàn thế giới.Lênin, sau cách mạng vô sản, khi giai cấp công nhân không còn là giai cấp vô sản như nghĩa đen của nó nữa mà là một giai cấp thống trị về chính trị, cùng toàn dân làm chủ các tư liệu sản xuất của xã hội (sở hữu toàn dân) nên giai cấp công nhân có thể thực hiện được những lợi ích kinh tế cơ bản của mình. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân là “lực lượng sản xuất hàng đầu của 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com toàn thể nhân loại”, “giai cấp công nhân đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất” [28, tr.

430], và họ còn phải thực hiện sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ tư bản, chế độ người bóc lột người, đồng thời với sứ mệnh đó là nhiệm vụ giữ gìn thành quả cách mạng, tạo nên một xã hội mới, tự do và hạnh phúc. Trong thời kỳ hiện nay, giai cấp công nhân đã có những biến đổi quan trọng, mang nhiều đặc trưng mới: Một là, có sự thay đổi về cơ cấu của giai cấp công nhân. Công nhân hiện nay không chỉ bao gồm lao động làm thuê (ở các nước tư bản) mà một bộ phận không nhỏ đã trở thành những người làm chủ, nắm quyền lãnh đạo xã hội (ở các nước đi theo con đường XHCN). Họ không chỉ bao gồm những người lao động chân tay, trực tiếp điều khiển máy móc, cơ khí, mà còn bao gồm những người lao động sản xuất với trình độ trí tuệ cao (công nhân trí thức), nghiên cứu, sáng chế.

Công nhân không chỉ bao gồm những người lao động công nghiệp trực tiếp tạo ra các giá trị vất chất cho xã hội, mà còn bao gồm những người lao động dịch vụ công nghiệp, lao động của họ gắn với sản xuất công nghiệp, có tính chất công nghiệp. Hai là, có sự thay đổi về ngành nghề, tính chất lao động của giai cấp công nhân. Trong thế kỷ XIX và gần suốt thế kỷ XX, công nhân tập trung chủ yếu ở các ngành khai khoáng, sản xuất dầu khí, chế tạo máy, xây dựng vận tải, chế biến… Trong những thập kỷ gần đây, do tác động mạnh của cách mạng khoa học - công nghệ, các ngành sản xuất truyền thống đã giảm dần, các ngành công nghệ cao và dịch vụ tăng lên. Lao động trí tuệ, sáng tạo ngày càng tăng, lao động giản đơn, thủ công với tính rập khuôn đang giảm.

Ba là, trình độ và đời sống của công nhân ngày càng được nâng cao. Do yêu cầu của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại công nhân ngày càng có trình độ chuyên môn, tay nghề cao. Điều này không chỉ làm thay đổi về cơ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cấu giai cấp, tính chất lao động mà còn nâng cao vị thế của giai cấp công nhân. Trong những năm qua, giai cấp công nhân cũng có sự thay đổi đáng kể về thu nhập, mức sống.

Do năng suất lao động cao nên thu nhập và điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội của một bộ phận khá lớn trong giai cấp công nhân cũng được cải thiện. Giai cấp công nhân có đủ các điều kiện để thực hiện những lợi ích kinh tế của mình. Giai cấp công nhân Việt Nam là một bộ phận của giai cấp công nhân thế giới. Vì vậy, giai cấp công nhân nước ta có đầy đủ những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân nói chung, đồng thời, có những nét đặc thù riêng có do hoàn cảnh lịch sử đất nước Việt Nam quy định.

Thực vậy, xét về thời gian lịch sử thì giai cấp công nhân Việt Nam ra đời gắn liền với việc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, tức là cũng chỉ mới hình thành và phát triển từ đầu thế kỷ XX trở lại đây, và đội ngũ công nhân buổi đầu ra đời chủ yếu cũng chỉ phục vụ cho cuộc sống, sinh hoạt và công việc khai thác thuộc địa của thực dân, đó là các ngành công nghiệp khai thác mỏ, đồn điền cao su, điện. Do vậy giai cấp công nhân Việt Nam chưa có thâm niên lâu đời như đội ngũ công nhân tại các quốc gia công nghiệp khác. Mặt khác, do bị bóc lột tận xương tủy nên ngay từ khi ra đời và sau đó được Đảng giác ngộ công nhân Việt Nam sớm nêu cao bản chất là lực lượng tiền phong trong mọi hoạt động cách mạng, thực hiện thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc và hiện nay đang cùng với mọi lực lượng xã hội khác tiến hành sự nghiệp CNH, HĐH. Về định nghĩa giai cấp công nhân Việt Nam cho đến nay cũng đã có khá nhiều công trình đề cập đến, tiêu biểu là: “Đổi mới chính sách xã hội đối với công nhân và thợ thủ công” của Trung tâm nghiên cứu thông tin lý luận, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, 1995; “Một số vấn đề về giai cấp công nhân và Công đoàn Việt Nam” của Giáo sư Văn Tạo, 1997, trong đó các tác giả đều nhấn mạnh đến đặc điểm giai cấp công nhân Việt Nam là con đẻ của nền sản xuất công nghiệp.

11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Gần đây văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X cũng đưa ra quan niệm về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là: “Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp” [15, tr. Văn kiện trên đã khái quát tương đối đầy đủ về khái niệm, các đặc điểm của giai cấp công nhân ở nước ta hiện nay và đã nêu được bản chất của giai cấp này: được ra đời và phát triển c ng với sản xuất công nghiệp, là sản phẩm của công nghiệp và là chủ thể của nền sản xuất công nghiệp; nói cách khác, nói đến công nhân là nói đến phương thức sản xuất công nghiệp, và nói đến sản xuất công nghiệp là nói đến công nhân chủ thể của nền sản xuất này. * Giai cấp nông dân Nông dân là giai cấp gắn với sản xuất nông nghiệp - hình thái sản xuất đầu tiên của mọi xã hội; là giai cấp chiếm số lượng đông đảo trong những xã hội mà sảm xuất nông nghiệp còn chiếm ưu thế, trong đó có Việt Nam.Mác, nông dân vừa là người sở hữu, tư hữu nhỏ, vừa là người lao động bị áp bức trong các xã hội có áp bức giai cấp. Do địa vị trong phương thức sản xuất quy định nên giai cấp nông dân không phải là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, không có hệ tư tưởng.

Mặt khác, do phương thức sản xuất quy định nên giai cấp nông dân có nhiều đặc điểm tâm lý, tính cách riêng so với các giai tầng khác trong xã hội. Họ là những người có tâm lý, cách sống bảo thủ, cục bộ, phân tán, biệt lập; có sự dao độngm ngả nghiêng trong chính trị. Ăngghen cho rằng, ở họ vẫn chứa đựng một khả năng cách mạng to lớn. Trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản, việc giai cấp nào giành được sự dồng tình, ủng hộ của nông dân là yếu tố cơ bản quyết định sự thắng lợi.

12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên cơ sở quan điểm của C.Lênin đã chỉ ra những đặc điểm quan trọng của giai cấp nông dân Nga đầu thế kỷ XX, từ đó khẳng định về khả năng cách mạng to lớn của giai cấp này trong tiến trình cách mạng XHCN. Theo Lênin, nông dân vừa là những người tư hữu nhỏ, vừa là những người lao động. Họ không có hệ tư tưởng độc lập, tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị, sư dao động, tính toán mang đầy tính thực tế có thể xem là đặc điểm quan trọng của nông dân trong bất kỳ giai đoạn nào.Lênin cũng cho rằng, nông dân là lực lượng cơ bản của cách mạng dân chủ và XHCN. Ở nước ta hiện nay, giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao động nông nghiệp, lấy sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp) làm ngành nghề chủ yếu.

Đây là giai cấp có số lượng lớn nhất, chiếm khoảng 70% dân cư, sống tập trung chủ yếu ở nông thôn. Năm 2006, cả nước có 10,46 triệu hộ làm nông, lâm nghiệp và thủy sản [2, tr. Những năm gần đây, nông dân, nông nghiệp, nông thôn ở nước ta có nhiều thay đổi to lớn. Đời sống nông dân được thay đổi căn bản, tình trạng đói nghèo giảm đáng kể; đời sống văn hóa tinh thần ngày càng lành mạnh; đã có sự thay đổi về cách thức tổ chức đời sống cộng đồng ở nông thôn; nông dân tham gia tích cực vào quản lý xã hội nông thôn và ngày càng có đóng góp quan trọng trong sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ