Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn về hoằng pháp. Chương 2: Đặc điểm, tình hình có liên quan và thực trạng hoằng pháp tại ba đạo tràng Viện Chuyên Tu, Chùa Phước Duyên, Chùa Vạn Phước của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay. Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả phương thức hoằng pháp tại các đạo tràng tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay. 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẰNG PHÁP 1.
Kinh tạng đề cập đến hoằng pháp Lịch sử Phật giáo ghi lại, sau ngày thành đạo, lúc còn ngự tại gốc cây Bồ đề, bên bờ sông Ni-liên-thiền Đức Phật nhận thấy, “Giáo pháp của Ngài đã khó khăn lắm mới chứng ngộ được, nay chúng sinh nặng về tham ái càng không thể phổ biến giáo pháp sâu kín, thậm thâm, khó nhận thức và rất tế nhị”; vì vậy, Đức Phật muốn nhập Niết-bàn. Song vị Phạm Thiên đã ba lần khẩn cầu Đức Phật, dẫn dụ rằng tất cả các Chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai đều vì chúng sinh mà thương xót và gieo mầm từ ái, trí tuệ để giải thoát. Giờ Đức Phật cũng vậy, tiếp nối con đường đó để “ai muốn tìm trạng thái an lành cho mình và mong chờ sự trưởng thành của mình, chắc chắn phải tôn kính giáo pháp cao quý và ghi nhớ nằm lòng bức thông điệp của chư Phật. Vì những bậc Chánh-biến-tri trong quá khứ, vị lai và hiện tại, những vị ấy đã giúp cho nhiều vị được thoát khổ.
Đó là đặc tính của chư Phật”. Nghe lời thỉnh cầu như vậy của Phạm Thiên, với trí tuệ và tâm từ bi vô lượng quán sát thế gian, Đức Phật nhận thấy tất cả đều do nghiệp quả chi phối mà chúng sanh luân hồi sanh tử. Tuy nhiên, Ngài cũng thấy có những chúng sanh trưởng thành từ trong nước, vươn lên khỏi mặt nước, không vướng chút bùn nhơ. Ngài tuyên bố: “Cửa Vô sanh Bất diệt đã rộng mở cho chúng sanh.
Hãy để cho ai có tai muốn nghe đặt trọn niềm tin tưởng. Vì biết có sự mệt mỏi dã dượi trong thế gian nên trước kia Như Lai phân vân, chưa quyết định truyền dạy giáo pháp vinh quang và hoàn hảo” [81; tr. Sứ mạng hoằng pháp của Đức Thế Tôn bắt đầu từ đó. 12 Bài thuyết pháp đầu tiên dành cho năm vị đạo sĩ đắc quả A-La-Hán, tiếp đó không lâu sáu mươi vị đệ tử thành đạt đạo quả A-La-Hán, Đức Phật thành lập tăng già và khuyến khích các đệ tử đi truyền bá giáo pháp: “Hỡi các Tỷ kheo! Như Lai đã thoát ra khỏi mọi trói buộc, dầu ở cảnh người hay các cảnh Trời, Các con cũng vậy, này hỡi các Tỳ khưu, các con cũng đã thoát ra khỏi mọi trói buộc, dầu ở cảnh người hay các cảnh Trời.
Hãy ra đi, các Tỳ khưu, đem sự tốt đẹp lại cho nhiều người, đem hạnh phúc đến nhiều người. Vì lòng từ bi, hãy đem sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc lại cho chư Thiên và nhân loại. Mỗi người hãy đi một ngả. Này hỡi các Tỳ khưu, hãy hoằng dương giáo pháp, toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, toàn hảo ở đoạn cuối cùng, toàn hảo trong cả hai, tinh thần và văn tự.
Hãy công bố đời sống thiêng liêng cao thượng, vừa toàn thiện, vừa trong sạch. Những chúng sanh còn vướng ít nhiều cát bụi trong mắt và nếu không nghe được giáo pháp sẽ sa đọa. Cũng có những người sẽ am hiểu giáo pháp. Chính Như Lai cũng đi.
Như Lai sẽ đi về hướng Uruvela để hoằng dương giáo pháp. Hãy cất lên ngọn cờ của bậc thiện trí. Hãy truyền dạy giáo pháp cao siêu. Hãy mang lại sự tốt đẹp cho người khác.
Được vậy, là các con đã hoàn tất nhiệm vụ” [16; tr. Đây được xem như tuyên ngôn của Đức Phật về mục đích của hoằng pháp: Truyền dạy giáo pháp và công bố đời sống thiêng liêng phạm hạnh. Chức vụ của chư vị A-la-hán, những người đã thành tựu mục tiêu giải thoát, là nâng cao đời sống đạo đức của người khác bằng cách nêu gương lành trong sạch và nghiêm túc trì giới [81; tr. Từ đó, Ngài và chúng tăng đã dạo khắp các vùng Ấn Độ, dù là chốn đô hội thị thành hay các miền thôn dã, tuỳ phương tiện mà hoá độ khắp tất cả chúng sanh bình đẳng, dù cao sang quyền quí hay nghèo cùng khốn khổ, 13 không phân biệt giai cấp hay chủng tộc, già hay trẻ, tất cả đều được chấp nhận vào trong đoàn thể, tất cả đều được hưởng cơn mưa Pháp vị.
Đây cũng là điểm đặc thù nhất trong Phật giáo:“Giáo pháp của Ngài như trận mưa lớn, tất cả các loại cỏ cây đều được thấm nhuần” [17; tr. Hơn hai ngàn năm trôi qua, những người con Phật vẫn tiếp tục đi trên con đường đó, mang ánh đạo đến với những cuộc đời đau khổ trong nhân gian. Đức Phật đã chỉ ra thế nào là một vị trưởng lão được ái mộ, ưa thích, tôn trọng, noi gương để hoằng pháp, vị đó phải: “Đạt được nghĩa vô ngại pháp, pháp vô ngại giải, đối với các sự việc, các vị đồng phạm hạnh cần phải làm, hoặc lớn, hoặc nhỏ vị ấy thiện xảo, không có biếng nhác, thành tựu trí phương tiện, ở đây vừa đủ để làm để khiến người làm” [17; tr. Trong kinh điển đại thừa đặc biệt kinh Pháp Hoa chỉ rõ, Đức Phật thị hiện vào đời là nhằm “Khai Thị chúng sanh Ngộ Nhập Phật tri kiến”.
Cũng vậy, tinh thần này được minh họa cụ thể trong kinh Tương Ưng, đề cập đến mục tiêu, tinh thần hoằng pháp: Thưa hiền giả, những ai là những vị thuyết pháp ở đời? Những ai là những vị khéo thực hành ở đời? Những ai là những vị khéo đến ở đời?” Tôn giả Sàriputra (Xá-Lợi-Phất) đáp lời du sĩ ngoại đạo: “Này Hiền giả, những ai thuyết pháp để đoạn tận Tham, những ai thuyết pháp để đoạn tận Sân, những ai thuyết pháp để đoạn tận Si; những vị ấy là những vị thuyết thuận pháp ở đời. Này Hiền giả, những ai thực hành đoạn tận Tham, thực hành đoạn tận Sân, thực hành đoạn tận Si; những vị ấy khéo thực hành ở đời. Này Hiền giả, những ai đoạn tận Tham, Sân, Si cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây Sa La, làm cho không thể tái sanh, làm không thể sanh khởi trong tương lai; những vị ấy là những vị Tỷ kheo đến ở đời” [17; tr. 14 Trong kinh Tăng Chi, Đức Phật chỉ ra những điều căn bản đối với hai đối tượng cơ bản của hoằng pháp là người hoằng pháp và người được hoằng pháp.
Với người giảng pháp, đức Phật dạy rằng, với tinh thần hoằng pháp, cần phải có và thông hiểu năm phận sự của mình (dhammadesakadhamma): - Thuyết tuần tự thứ lớp, có nghĩa là từ thấp lên cao. - Thuyết y cứ theo pháp môn và kinh điển. - Thuyết vì lòng từ bi, muốn cho người khác được lợi ích. - Thuyết không vì lợi lộc, không muốn được lợi hay được đền đáp.
- Thuyết không đụng chạm mình và người khác, không cố ý châm chích, khen mình chê người. Người giảng pháp thiếu một trong năm chi phần này xem như nhiệm vụ người hoằng pháp không hoàn hảo. Cũng trong Tăng Chi bộ kinh (quyển ba), Đức Phật chỉ ra năm lợi ích của người nghe pháp (Dhammassavanànisamsa): - Nghe được Pháp chưa từng nghe - Thông suốt Pháp đã nghe - Đoạn trừ được nghi hoặc - Giúp tri kiến đúng đắn - Nội tâm trong sáng. Về phương tiện hoằng pháp, Đức Phật thường sử dụng hai phương tiện đó là: đi bộ và thần thông.
Trong Tăng Chi bộ kinh, chúng ta thấy lịch sinh hoạt của Đức Phật mỗi ngày: - Buổi sáng đi trì bình khất thực - Buổi chiều thuyết pháp độ chúng sinh - Buổi tối dạy đạo chư tăng - Khuya giải đáp thắc mắc của chư thiên - Rạng đông nhập từ bi quán để tìm chúng sinh hữu duyên tiếp độ. 15 Thực tế, để hóa độ chúng sanh, Đức Phật đã phải tự mình đi trên con đường đau khổ, tự mình tu luyện, rèn giũa thân tâm, tự mình chứng ngộ. Vì vậy, để đi trên con đường hoằng pháp, trước tiên người hoằng pháp phải văn-tư-tu. Đó là hành trình dài gian khổ của sự tu luyện thân giáo, khẩu giáo, ý giáo, sau đến Đức Phật vận dụng khéo léo tứ khế (lý, cơ, thời, xứ) để hoằng pháp.
Ngài như vị lương y tùy bệnh mà cho thuốc, như người cha lành tùy căn cơ chúng sinh, dùng sức phương tiện nơi một Phật thừa mà nói thành ba [17; tr. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng khẳng định, Chư Phật đời quá khứ dùng vô lượng vô số phương tiện, hết thảy nhân duyên, lời lẽ thí dụ mà vì chúng sinh diễn nói các pháp [17; tr.61], như một trận mưa xuống thấm ướt khắp cả cây cối, rừng rậm, cây lớn, nhỏ, tùy theo hạng mà hấp thụ có sai khác… nhưng tựu chung, tất cả đều đạt đến quả vị giải thoát, Niết-bàn, tịnh tịch [17; tr. Để trang bị khả năng hoằng pháp, trong kinh điển đức Phật còn dạy cho chúng đệ tử Tỷ kheo về giáo lý Ngũ minh: 1. Y phương minh, 4.
Công xảo minh, 5. Đây là giáo lý được xem như một trong những phương pháp tối ưu nhằm hoàn thiện những nhà hoằng pháp cả hai phương diện Phật học và thế học. Bên cạnh đó giáo lý Ngũ minh còn đề cao ba yếu tố quan trọng cho việc hoằng truyền chánh pháp: 1. Con người hoằng pháp; 2.
Phương tiện hoằng pháp; 3. Nội dung hoằng pháp. Như vậy, mẫu người tu sĩ có đầy đủ Ngũ minh là mẫu người lý tưởng nhất trong việc truyền bá Phật giáo, thuyết pháp, độ sinh và cả về phần tự tu tập [77; tr. Trên tinh thần Kinh và Luật như vậy, trải qua các kỳ kiết tập lớn, các giáo đoàn tăng già tiếp tục mang giáo pháp của Đức Phật đi hoằng pháp khắp nơi, trong đó có Việt Nam.
Theo sách Đại Sử Ký (Mahavamsa) của Tích Lan, năm 325 trước Công nguyên, Đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba diễn ra tại thành Pataliputta (Hoa Thị), nước Mahada (Ma Kiệt Đà), do Hoàng đế Asoka (A Dục) đề xướng bảo trợ, Đại lão HT. Moggaliputta Tissa (Mục Kiền Liên Tử Đế Tu) làm chủ tọa. 16 Sau Đại hội này, có 9 phái đoàn đi hoằng pháp khắp các nơi trong nước Ấn Độ và các nước bên ngoài Ấn Độ, diễn ra trong khoảng thời gian từ năm 325 đến năm 258 trước Công nguyên, tương ứng với thời Hùng Vương ở nước ta và trùng hợp với các sử liệu về Phật giáo ghi trong ngọc phả Hùng Vương, chuyện Chử Đồng Tử, Giao Châu Ký của Lưu Hân Kỳ và Thủy Kinh Chú của Lệ Đạo Nguyên [11; tr.