Chương 1. MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE PHUONG THUC CAM QUYEN CUA DANG CAM QUYEN 1. Một số van đề lý luận về phương thức cam quyền 1. Định nghĩa phương thức cam quyền Để hiểu được phương thức cầm quyền của Đảng chính trị nói chung, hiểu về phương thức cầm quyền của Đảng NDCM Lào, thực trạng, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra trong phương thức cầm quyền của Đảng trước hết ta cần phải làm rõ định nghĩa về đảng cam quyền và phương thức cam quyên của đảng.
Thứ nhất, về đảng cầm quyền. Khái niệm “Đảng cầm quyền” là thuật ngữ dùng để chỉ các Đảng Cộng sản ở những nước có một chính đảng duy nhất tham gia vào hệ thống chính trị, đang nam chính quyền Nhà nước dé lãnh đạo cách mạng của nước đó [20, tr. Hiện nay trên thế giới vẫn còn một số quốc gia có một chính đảng tham gia và hệ thống chính trị, như Đảng NDCM Lào, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Cuba và Trung Quốc (mặc dù ở Trung Quốc có hơn 8 đảng chính trị tham gia vào hệ thống chính trị nhưng những đảng phái đó không có quyền quyết định và không có chế trong Quốc hội, do đó, thực chất chỉ có Đảng Cộng sản Trung Quốc cầm quyên). Trong Cách mạng Tháng Mười Nga, V.
Lênin đã nhiều lần sử dụng thuật ngữ đảng cầm quyền, đảng chấp chính, đảng năm chính quyền. Theo Lénin, đảng cam quyền có nghĩa là đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội hay đảng lãnh đạo Nhà nước khi cầm quyên. Lênin khang định, ở Liên Xô “chỉ có một đảng cầm quyền duy nhất đang lãnh đạo” đất nước này [47, tr. Như vậy, khái niệm đảng cầm quyền được hiểu theo một số ý nghĩa sau: Mới, khi đề cập đến đảng cầm quyên tức là nói tới vị thế của đảng trong sự so sánh với các đảng phái chính trị khác trong một hệ thống chính trị - những đảng không cầm quyền.
12 Hai, đảng cầm quyền là đảng nắm giữ những vị trí chủ chốt trong bộ máy chính quyền để kiểm soát quyền lực Nhà nước thông qua quá trình hoạch định và thực thi các chính sách đối nội và đối ngoại. Ba, dang cầm quyền là dang cử người của mình (đảng viên) tham gia vào trong bộ máy chính quyên thực hiện các mục tiêu phát triển của đảng thông qua cương lĩnh, nghị quyết, chính sách. Thực tế, mặc dù mô hình đảng cầm quyền trong chủ nghĩa tư bản có sự khác biệt về mục đích, bản chất, nhưng đều có điểm chung là triển khai các hoạt động liên quan đến quyền lực Nhà nước (quyên lực chính trị) để lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội thực hiện mục tiêu của đảng. Qua đó, có thể khẳng định, đảng cầm quyền không phải là đảng nắm chính quyền mà là đảng nắm giữ quyền lực của chính quyền đó nhằm thực hiện các mục tiêu của đảng.
Như vậy, định nghĩa về đảng cầm quyền bao hàm cả nội dung định nghĩa của đảng lãnh đạo, đảng lãnh đạo thuận lợi hơn trong điều kiện cam quyên. Khái niệm “đảng cầm quyền” được dùng như là “đảng lãnh đạo” ở một số quốc gia; trong đó chủ yếu đề cập đến một số vấn đề như “nội dung và phương thức cầm quyền của đảng”, chính vì vậy, nó cũng được dùng như là nội dung và phương thức lãnh đạo của đảng đối với Nhà nước và xã hội [20, tr. Từ những nhận định trên, có thé đưa ra định nghĩa về đảng cầm quyền: Dang cam quyên là chính dang nắm giữ quyên lực Nhà nước trong hệ thong chính trị, hoạt động theo nguyên tắc của pháp luật, nhằm đảm bảo vai trò của đảng đối với bộ máy chính quyền và các lĩnh vực trong xã hội nhằm bảo vệ, xây dung và phát triển đất nước. Thứ hai, về phương thức cầm quyền.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đưa ra định nghĩa về phương thức cầm quyền, nhưng có thê hiểu một cách cụ thé: Phương thức cam quyên của một đảng chính trị là những hình thức, cách thức, phương pháp, nghệ thuật giành, giữ và thực thi quyên lực Nhà nước theo các quy định của pháp luật, thể hiện trong quá trình tổ chức Nhà nước, bố trí đội ngũ cán bộ nhân sự, thực 13 thi quyên lực Nhà nước, giám sát và kiểm soát quyên lực nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. “Phương thức cầm quyền” và “phương thức lãnh đạo” của đảng có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau nhưng không đồng nhất về mặt nội hàm. Tuy nhiên, nó cũng có thê được coi là nội dung chính của phương thức hoạt động của đảng trong điều kiện một đảng cầm quyền. Trong trường hợp này thì lãnh đạo được hiểu là sự định hướng, dẫn dắt các chương trình hoạt động của Nhà nước theo mục tiêu chính trị của Đảng.
Phương thức lãnh đạo của Đảng được thực hiện bằng các chủ trương, đường lối và thê chế hóa đường lối, chủ trương thành Hiến pháp, pháp luật; bằng công tác tư tưởng, công tác tô chức - cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng, đảng viên và các cấp ủy đảng. Trong khi đó phương thức cầm quyền được thực hiện băng pháp luật và sự gương mẫu thực hiện theo pháp luật; bằng tổ chức bộ máy và bố trí đội ngũ cán bộ trong các cơ quan Nhà nước để thực thi quyền lực Nhà nước, bằng giám sát, kiếm soát quyền lực. Phương thức lãnh đạo và phương thức cam quyền là hai hoạt động không thé tách rời trong cùng một chủ thé, một quá trình tác động của Đảng đối với Nhà nước và đôi khi nó cần thiết phải được thực hiện đồng thời. Phương thức lãnh đạo bao trùm lên toàn xã hội, còn phương thức cầm quyền thì giới hạn trong phạm vi quan hệ Nhà nước.
Phương thức lãnh đạo mang tính chính trị, tác động một cách gián tiếp đến hoạt động của bộ máy chính quyên, còn phương thưc cầm quyền hoạt động mang tính chất pháp lý, tuân theo pháp luật và có hoạt động trực tiếp trong các quan hệ của hệ thống chính tri. Trong mối tương quan giữa Dang và Nhà nước, Lénin cho rằng, chỉ có Dang Cộng sản lãnh đạo, Nhà nước mới đáp ứng đúng mục tiêu và nguyện vọng của đảng là xây dựng được một xã hội mới — xã hội XHCN, giai đoạn tiền dé dé tiễn lên chủ nghĩa cộng sản. Và để giải quyết được mối quan hệ giữa đảng và Nhà nước trước hết phải phân định, phân nhiệm rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của đảng và Nhà nước. Đó là đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý.
Van đề phân chia chức năng giữa dang và Nhà nước 14 được Lênin tiếp tục khăng định hơn sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Lênin cho rằng, khi nào mà Ban Chấp hành Trung ương Đảng và toàn Đảng còn tiếp tục đảm nhận vai trò quản lý hành chính, quản lý Nhà nước thì khi đó Đảng không thể gọi là đảng cầm quyền, dang lãnh đạo được. Tại Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Liên Xô (1922), Lênin đã cho răng “Giữa dang và các cơ quan Xôviết hiện đã có những quan hệ không đúng. Phải nhanh chóng chấm dứt ngay tình trạng là không phải bất kỳ vấn đề vụn vặt vào cũng đưa ra trước Ban Chấp hành Trung ương, mà phải nâng cao uy quyền của Hội đồng Bộ trưởng dân uy” [45, tr.
Từ đó, Lénin cho rằng : “Nếu cứ lãnh đạo Đảng bằng cách đó, thì chúng ta nhất định đi tơi chỗ diệt vong. rằng cần phải phân định rõ hơn nữa về chức năng, quyền hạn của bộ máy của Dang và của bộ máy của các Xôviết” [45, tr. Dé khắc phục tình trạng trên, Lénin đã đưa ra nhiều giải pháp, trước hết là giải quyết về mặt lý luận. Theo Lênin: “cần phân dịnh rõ ràng hơn nữa về nhiệm vụ của Đảng Cộng sản (và của Ban Chấp hành Trung ương của nó) với nhiệm vụ của chính quyền X6viét; trong đó cần phải tăng thêm trách nhiệm va tính chủ động cho các cán bộ Xôviết và các co quan X6viét, còn về đảng thì dành quyền lãnh dao chung đối với công tác của tất cả các cơ quan Nhà nước gộp chung lại, tuy nhiên cũng không được can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy và không giải quyết những việc nhỏ nhặt” [45, tr.
Thực tiễn, có hai nhận định trái ngược nhau. Một, đồng nhất phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền. Đối với những nước có một chính đảng duy nhất, phương thức lãnh đạo và phương thức cam quyền không có sự khác biệt về bản chat. Nhưng nếu đồng nhất hai khái niệm trên sẽ không tách bạch được vai trò hạt nhân chính tri lãnh đạo xã hội của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước.
Như vay sẽ “hòa tan” chức năng lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Còn nếu tách rời hai khái niệm trên sẽ dẫn đến hoạt động quản lý của Nhà nước xa rời với hoạt động Đảng. Cả hai nhận 15 định trên đều làm mất vai trò quản lý của Nhà nước và lãnh đạo của Dang dẫn tới suy yếu vai trò của các chính đảng. Như vậy, cần phải phân định rõ ràng nhiệm vụ của đảng và Nhà nước trong phương thức cầm quyền.
Đối với Dang, Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước, lãnh đạo của đảng cần có uy tín và sức thuyết phục cao. Đối với Nhà nước, quản lý của Nhà nước mang tính chất hành chính, trong một số trường hợp phải sử dụng biện pháp cưỡng chế, còn lãnh đạo thì không thể có cưỡng chế. Nội dung và phương thức cam quyền của đảng chính trị 1. Nội dung cầm quyên Nội dung cầm quyền được thê hiện qua sự lãnh đạo của đảng cầm quyền đối với hệ thống chính trị.
Nội dung cam quyền của đảng khi nắm chính quyền có những điểm khác biệt rõ ràng so với khi đảng chưa nắm chính quyền. Chi sau khi nắm được chính quyền trong tay, đảng mới có thể xác định được những nội dung cam quyền và biểu hiện là những nghị quyết, chủ trương, chính sách. Nội dung cầm quyền cụ thể là những chỉ thị, nhiệm vụ của Đảng phải thực hiện trong tổ chức và hoạt động Nhà nước. Đó là tổ chức bộ máy Nhà nước, bồ trí đội ngũ nhân sự và các vi trí lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, xây dựng hệ thống luật pháp và cơ chế hoạt động của các cơ quan Nhà nước; tổ chức kiểm soát quyền lực, giám sát thực thi quyền lực Nhà nước.