CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Lý do chọn đề tài: Xác định tỷ giá vẫn là một vấn đề quan trọng đối với cả các nhà kinh tế cũng như các nhà phân tích chính sách. Là một biến về giá quan trọng trong nền kinh tế, tỷ giá hối đoái thực hiện vai trò của một cái neo danh nghĩa cho giá cả trong nước và duy trì khả năng cạnh tranh quốc tế. Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế và sự phát triển trong và sau thời kỳ Bretton – Woods.
Trong ba thập kỷ qua, một số giai đoạn ấn tượng đã khẳng định tầm quan trọng của động thái tỷ giá hối đoái trong việc duy trì sự ổn định của nền kinh tế trong bối cảnh thương mại toàn cầu và tự do hóa tài chính: sự mất giá của đồng Mỹ Latinh trong thập niên 80, các cuộc khủng hoảng tỷ giá hối đoái ở Anh và Tây Ban Nha trong những năm 90, cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1994 tại Mexico, sự sụp đổ của chuẩn tiền tệ (currency board) ở Argentina, và sự luân phiên tăng giá – giảm giá của đồng đô la Mỹ so với đồng Euro trong thời gian qua. Nghiên cứu thực nghiệm về kinh tế tỷ giá hối đoái đã được phát triển theo cấp số nhân trong thời gian qua. Xu hướng này có thể là do mối quan tâm to lớn về sự sụp đổ của hệ thống Bretton – Woods, và sự cần thiết để xác định tác động của tỷ giá hối đoái đối với hoạt động kinh tế của các quốc gia trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Từ quan điểm thực nghiệm trên, hành vi của tỷ giá hối đoái linh hoạt và sự biến động khó lường của nó là một động lực mạnh mẽ cho các học giả đưa ra những câu hỏi về việc xác định thực nghiệm của tỷ giá hối đoái hiện nay và trong tương lai.
Trên thực tế, các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều mô hình cũng như công cụ để các nhà điều hành chính sách tính toán, dự báo tỷ giá hối đoái và đưa ra những quyết sách phù hợp với tình hình của từng quốc gia. Tuy nhiên, liệu có thật sự có khả năng dự đoán tỷ giá hối đoái hay không và trong số rất nhiều mô hình như vậy, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 thì mô hình dự đoán tỷ giá hối đoái nào thật sự có hiệu quả ở các nền kinh tế mới nổi? Tầm quan trọng của các nền kinh tế mới nổi đang ngày càng tăng đối với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, các nước này lại không nhận được sự quan tâm to lớn như các nền kinh tế công nghiệp hóa. Và bài nghiên cứu này góp phần vào việc nghiên cứu ở Việt Nam – một trong những nền kinh tế mới nổi – về các vấn đề khá cấp thiết trong cơ chế xác định tỷ giá hối đoái giúp đưa ra những chính sách điều hành hợp lý.
Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu của bài nghiên cứu này là để kiểm tra tính hợp lệ của mô hình tiền tệ xác định tỷ giá hối đoái danh nghĩa VND/USD ở Việt Nam trong giai đoạn 1999 – 2013. Đồng thời, bài nghiên cứu không chỉ tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm đáng tin cậy hỗ trợ hiệu lực trong ngắn hạn mà còn trong dài hạn của phương pháp MAER cho tỷ giá hối đoái danh nghĩa VND/USD. Vấn đề nghiên cứu: Những vấn đề mà bài nghiên cứu tìm cách trả lời bao gồm: (1) Mô hình tiền tệ giải thích sự biến động của tỷ giá hối đoái danh nghĩa như thế nào? (2) Có tồn tại mối quan hệ đồng liên kết giữa tỷ giá và các yếu tố tiền tệ cơ bản ở Việt Nam? (3) Có sự phù hợp về mặt lý thuyết của các hệ số ước lượng hay không? 1. Phương pháp nghiên cứu: Bài nghiên cứu dựa trên ý tưởng của bài nghiên cứu của Eduardo Loría, Armando Sánchez, Uberto Salgado, (2010) “New evidence on the monetary approach of exchange rate determination in Mexico 1994–2007: A cointegrated SVAR model”.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Bằng cách sử dụng phương pháp SVAR đồng liên kết, trong điều kiện các biến không dừng, tác giả tìm kiếm bằng chứng về tính hợp lệ của phương pháp tiền tệ xác định tỷ giá hối đoái danh nghĩa trong giai đoạn quý 1/1999 đến quý 2/2013. Mô hình SVAR đồng liên kết là một kỹ thuật thích hợp trong bối cảnh này, vì nó cho phép thực hiện ước lượng các mối tương quan tức thời (hồi qui rất ngắn hạn) giữa tỷ giá và các yếu tố tiền tệ cơ bản khi thực hiện ước tính phương trình tỷ giá dài hạn hiện hữu trong quy trình ước lượng. Nội dung nghiên cứu: Bài nghiên cứu gồm có 7 chương. Trong chương một, tác giả sẽ trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, phương pháp và nội dung nghiên cứu.
Chương hai tóm tắt một số kết quả thực nghiệm gần đây về tính hợp lệ của phương pháp MAER đối với một số quốc gia. Chương ba trình bày các nguyên tắc cơ bản của MAER. Chương bốn mô tả ngắn gọn phương pháp SVAR được sử dụng để ước tính phản ứng của tỷ giá VND/USD với những cú sốc trong các yếu tố cơ bản và mô hình thực nghiệm ước lượng cho Việt Nam. Chương năm phân tích sự vận động của tỷ giá hối đoái danh nghĩa VND/USD qua các giai đoạn khác nhau.
Sau đó, tác giả báo cáo kết quả thực nghiệm chính. Cuối cùng là thảo luận ngắn về kết quả thực nghiệm và một số gợi ý chính sách. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Qua bài nghiên cứu “Phương pháp tiền tệ xác định tỷ giá hối đoái VND/USD giai đoạn 1999 – 2013”, tác giả hy vọng có thể đóng góp một mô hình hữu ích trong việc dự đoán tỷ giá hối đoái để xác định mức tỷ giá hối đoái cân bằng trong ngắn hạn và dài hạn cho đồng Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.
Các nghiên cứu trước đây về khả năng dự đoán tỷ giá hối đoái: Vào đầu những năm 1970, các nền kinh tế công nghiệp hóa lớn thông qua chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi và từ bỏ hệ thống Bretton – Woods, thì các mô hình về tỷ giá hối đoái trở nên phổ biến. Các nghiên cứu thực nghiệm của Bilson (1978), Hodrick (1978) đã tìm thấy các bằng chứng hỗ trợ cho các mô hình tỷ giá hối đoái: hệ số đáng kể với các dấu hiệu dự kiến, mô hình tốt trong mẫu phù hợp và kết quả khả quan trong các kiểm tra khả năng dự doán. Một loạt các nghiên cứu sau đó vào những năm 1990, như Mark (1995) đã sử dụng kỹ thuật sáng tạo Bootstrapping và dữ liệu tỷ giá hối đoái từ 1973 đến 1991 cho Canada, Ðức, Nhật Bản và Thụy Sĩ so với đồng USD đã tìm thấy bằng chứng hỗ trợ cho việc dự báo các mô hình tiền tệ tại khoảng thời gian từ quý 12 đến quý 14 đối với một số quốc gia và tuyên bố đảo ngược kết quả không có khả năng dự báo. Tuy nhiên, kết quả này đã bị chỉ trích từ Kilian (1999), ông đã chứng minh kết quả của Mark không được mạnh mẽ để thay đổi mẫu và cho rằng chúng phụ thuộc quá nhiều vào quá trình tạo ra dữ liệu giả định.
Hơn nữa, các học giả khác cũng đã chỉ trích Mark (1995) đã ngầm giả định rằng tỷ giá hối đoái và các yếu tố tiền tệ cơ bản là đồng liên kết. Như trong bài nghiên cứu của Berkowitz và Giorgianni (2001) đã đưa ra kết luận chỉ trích bài nghiên cứu của Mark (1995) rằng bằng việc áp đặt mối quan hệ đồng liên kết giữa tỷ giá giao ngay và các yếu tố tiền tệ cơ bản đã được nghĩ ra từ trước và thu được các giá trị thực nghiệm quan trọng dưới giả định này, đây là một sự giải thích về bằng chứng của mối quan hệ thống kê giữa các yếu tố cơ bản và tỷ giá hối đoái sai lệch về ý nghĩa. Và ông cũng đã so sánh dự báo ngoài mẫu cho 4 tỷ giá hối đoái so với đồng USD được lấy từ hồi quy ở khoảng thời gian dài với các giá trị then chốt này và tìm được bằng chứng yếu về khả năng dự báo chủ yếu ở khoảng thời gian ngắn. Ðến những năm 2000, thì các bài nghiên cứu có những kết quả không thể kết luận.
Sarno và Taylor (2002) tuyên bố rằng các kết quả thực nghiệm có xu hướng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 rất yếu trong ý nghĩa rằng chúng khó có thể nhân rộng trong các mẫu hoặc các quốc gia khác nhau. Bài nghiên cứu của Cheung và cộng sự (2005) đã thử nghiệm dự báo tỷ giá của các đồng tiền dựa trên USD bao gồm đồng đô la Canada, Bảng Anh, Deutschemark, đồng Yên Nhật và đồng Franc Thụy Sĩ bằng cách sử dụng một phạm vi rộng lớn hơn của các mô hình hơn so với những người sử dụng trong những năm 1980 và 1990. Và đã đưa ra kết luận rằng mô hình/ đặc điểm kỹ thuật/ tiền tệ kết hợp với nhau làm việc tốt trong một giai đoạn nhưng không nhất thiết phải làm việc tốt trong giai đoạn khác. Vào nửa sau những năm 2000, thật đáng ngạc nhiên khi có một số lượng lớn các nghiên cứu tuyên bố cung cấp bằng chứng về khả năng dự doán tỷ giá hối đoái ngoài mẫu.
Trong đó có bài nghiên cứu của Engel, Mark và West (2008), nhấn mạnh tầm quan trọng của các quy tắc chính sách tiền tệ, sử dụng các mô hình tỷ giá hối đoái được xác dịnh bởi giá trị hiện tại được kỳ vọng của các yếu tố cơ bản, khoảng cách dữ liệu lâu hơn và dữ liệu bảng tạo hy vọng nhiều hơn cho sự tồn tại của khả năng dự báo tỷ giá hối đoái. Hầu hết các bài nghiên cứu này tập trung vào hai phương pháp tiếp cận thay thế. Một số nhà nghiên cứu sử dụng tập hợp dữ liệu bảng lớn hơn từ một tập hợp các quốc gia tương tự. Sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị và phép tích phân trên dữ liệu bảng, các nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về khả năng dự báo của mô hình tiền tệ, đặc biệt là với khoảng thời gian dài hơn.
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đã sử dụng các mô hình tiền tệ cũ của những năm 1970 và 1980 (ví dụ như nghiên cứu của Mark và Sul, 2001; Rapach và Wohar, 2004; Groen, 2005).