CHƯƠNG 1 Công ty TNHH Kiểm toán Immanuel được thành lập năm 2008 với lĩnh vực chuyên cung cấp các dịch vụ kiểm toán và tư vấn Kế toán – Luật. Sau gần 9 năm hoạt động, mặc dù còn nhiều khó khăn nền kinh tế thị trường ngày càng cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, tuy vậy công ty vẫn không ngừng nỗ lực phát triển mở rộng thêm quy mô và lĩnh vực. 12 do an CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2. Tổng quan về bằng chứng kiểm toán 2.
Khái niệm: Theo điểm c đoạn 5 VSA 500: “Là tất cả các tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các tài liệu, thông tin này, kiểm toán viên đưa ra kết luận và từ đó hình thành ý kiến kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán bao gồm những tài liệu, thông tin chứa đựng trong các tài liệu, sổ kế toán, kể cả báo cáo tài chính và những tài liệu, thông tin khác”. Như vậy, bằng chứng kiểm toán có thể bao gồm nhiều loại khác nhau, đó không chỉ là chứng từ, sổ kế toán mà còn bao gồm nhiều thông tin khác nhau do KTV thu thập để làm cơ sở cho ý kiến của mình thông qua các phương pháp quan sát, phỏng vấn và xác nhận. Theo nguồn gốc hình thành: Phân loại bằng chứng kiểm toán theo nguồn gốc hình thành là phân loại dựa theo nguồn gốc của thông tin, tài liệu có liên quan đến BCTC mà KTV thu thập được trong quá trình kiểm toán.
Theo cách phân loại này, bằng chứng kiểm toán được chia thành: - Bằng chứng kiểm toán do khách hàng (Đơn vị được kiểm toán) phát hành và luân chuyển nội bộ như bảng chấm công, sổ thanh toán tiền lương, phiếu thu, phiếu chi,… Số lượng bằng chứng này chiếm một số lượng lớn và khá phổ biến. Tuy nhiên, bằng chứng này có nguồn gốc từ nội bộ doanh nghiệp nên tính thuyết phục của chúng không cao. - Bằng chứng do các bên ngoài khác phát hành được lưu trữ tại doanh nghiệp như hóa đơn mua hàng,… Loại bằng chứng này có độ thuyết phục cao hơn bởi nó được tạo từ bên ngoài. - Bằng chứng do đơn vị phát hành nhưng lại lưu chuyển ở bên ngoài như hoá đơn bán hàng,… Đây là dạng bằng chứng có tính thuyết phục cao vì nó được xác 13 do an nhận bởi đối tượng bên ngoài doanh nghiệp.
Tuy nhiên, nó cần phải đảm bảo được tính độc lập của doanh nghiệp và đối tượng đó. - Bằng chứng do đơn vị bên ngoài phát hành, loại bằng chứng này thường thu thập bằng phương pháp gửi thư xác nhận. Bằng chứng này mang tính thuyết phục cao vì nó được thu thập trực tiếp bởi KTV. - Bằng chứng do KTV trưc tiếp khai thác và phát hiện như tự kiểm kê kho, kiểm tra tài sản,… Đây là loại bằng chứng có độ tin cậy cao nhất vì nó được thực hiện trực tiếp bởi KTV.
Song nhiều lúc nó còn mang tính thời điểm tại lúc kiểm tra như kiểm kê hàng tồn kho phụ thuộc vào tính chất vật lý của chúng theo từng thời điểm khác nhau mà có những kết quả khác nhau,… 2. Theo dạng bằng chứng: Căn cứ vào dạng bằng chứng kiểm toán thì bằng chứng kiểm toán được chia thành các loại sau: - Dạng bằng chứng vật chất như bản kiểm kê hàng tồn kho, biên bản kiểm kê tài sản cố định,… Đây là dạng bằng chứng có tính thuyết phục cao do nó được thực hiện bởi KTV. - Dạng bằng chứng tài liệu bao gồm tài liệu kế toán, sổ sách, chứng từ kế toán,… Dạng bằng chứng này có mức độ tin cậy cao, tuy nhiên một số loại bằng chứng độ tin cậy của chúng phụ thuộc vào tính hiệu lực của bộ phận KSNB. - Dạng bằng chứng thu được từ lời nói thường được thu thập qua phương pháp phỏng vấn.
Loại bằng chứng này mang tính thuyết phục không cao vì nó cần sự hiểu biết của người phỏng vấn và người được phỏng vấn. Theo tính thuyết phục Do bằng chứng kiểm toán được sử dụng để trực tiếp đưa ra ý kiến khác nhau về tính trung thực của BCTC mà đơn vị kiểm toán phát hành. Vì vậy, KTV cần phải xem xét mức độ tin cậy của chúng. Ý kiến của KTV trong BCKT có mức độ tương ứng đối với tính thuyết phục của bằng chứng.
Theo cách này bằng chứng được phân loại như sau: 14 do an - Bằng chứng có tính thuyết phục hoàn toàn là loại bằng chứng do KTV thu thập bằng cánh tự kiểm kê, đánh giá và quan sát. Bằng chứng này thường được đánh giá là khách quan, chính xác và đầy đủ. - Bằng chứng thuyết phục từng phần là bằng chứng thu được từ phỏng vấn đã qua phân tích và kiểm tra lại, các loại bằng chứng thường được đảm bảo bởi HTKSNB. Chúng chỉ thật sự có tính thuyết phục khi bộ máy KSNB của DN là thực sự tồn tại và có hiệu lực.
- Bằng chứng không có giá trị thuyết phục là bằng chứng không có giá trị trong việc ra ý kiến, quyết định của KTV về việc kiểm toán. Bằng chứng có thể do phỏng vấn người quản lý, ban quản trị. Vai trò và ý nghĩa: Bằng chứng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đưa ra ý kiến, quyết định của KTV về hoạt động kiểm toán, nó là cơ sở và là một trong những yếu tố quyết định độ chính xác và rủi ro trong ý kiến của KTV. Từ đó có thể thấy sự thành công cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào viêc thu thập và sau đó đánh giá bằng chứng của KTV.
Một khi KTV không thu thập đầy đủ và đánh giá đúng thì KTV khó có thể đưa ra một nhận định về chính sách đối tượng cần kiểm toán. BCKT cần cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho người sử dụng vì vậy KTV phải chịu trách nhiệm về tính trung thực và khách quan của BCTC đưa ra. Để làm được điều đó KTV cần thu thập bằng chứng kiểm toán đảm bảo tính thích hợp và đầy đủ. Từ đó ta có thể thấy bằng chứng kiểm toán có một ý nghĩa rất quan trọng đối với các tổ chức kiểm toán độc lập, các cơ quan cơ quan kiểm toán nhà nước hoặc cơ quan pháp lý, bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở để giám sát đánh giá chất lượng hoạt động của KTV trong quá trình thực hiện kiểm toán.
Việc giám sát này có thể do nhà quản lý tiến hành đối với các KTV thực hiện kiểm toán hoặc có thể do cơ quan tư pháp tiến hành đối với chủ thể kiểm toán nói chung (Trong trường hợp xảy ra kiện tụng đối với KTV hay công ty kiểm toán). Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán: “Kiểm toán viên phải thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp với từng hoàn cảnh nhằm thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp”. Như vậy, ta có thể thấy yêu cầu của bằng chứng kiểm toán là thích hợp và đầy đủ. Tính đầy đủ: Theo điểm e đoạn 5 VSA 500: “Tính đầy đủ (của bằng chứng kiểm toán): Là tiêu chuẩn đánh giá về số lượng bằng chứng kiểm toán.
Số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập chịu ảnh hưởng bởi đánh giá của kiểm toán viên đối với rủi ro có sai sót trọng yếu và chất lượng của mỗi bằng chứng kiểm toán”. Thông thường, KTV không kiểm tra toàn bộ các thông tin hiện có nhưng họ có thể kết luận toàn bộ các dữ liệu bằng cách chỉ kiểm tra trên cơ sở mẫu kiểm toán đã được lựa chọn. Yêu cầu này liên quan đến số lượng bằng chứng kiểm toán cần thiết, chủ yếu là cỡ mẫu và thời gian thực hiện các thủ tục kiểm toán. Đây là một vấn đế thuộc xét đoán nghề nghiệp của KTV.
Sau đây là một số nhân tố có ảnh hưởng đến sự xét đoán của KTV về yêu cầu đẩy đủ: Tính trọng yếu và rủi ro có sai sót tiềm tàng: Bộ phận nào càng trọng yếu thì càng đòi hỏi phải được quan tâm nhiều hơn và phải thu thập nhiều bằng chứng kiểm toán hơn. Nếu xét dưới góc độ mức trọng yếu, nghĩa là số tiền sai lệch tối đa chấp nhận được, khi KTV thiết lập mức trọng yếu càng thấp thì số lượng bằng chứng kiểm toán cần thiết càng phải tăng thêm. Tính hữu hiệu của bằng chứng kiểm toán: Việc xác định xem bằng chứng kiểm toán thu thập được đã đầy đủ hay chưa điều đó còn phụ thuộc vào chất lượng của bằng chứng này. Khi bằng chứng kiểm toán có độ tin cậy cao thì số lượng ít cũng có thể đã đủ làm cơ sở cho ý kiến của KTV.
Việc xét đoán sự đầy đủ và thích hợp của 16 do an bằng chứng kiểm toán không có một thước đo tuyệt đối nào không có một thước đo tuyệt đối nào mà phụ thuộc vào xét đoán nghề nghiệp của KTV. Tính thích hợp Theo điểm b đoạn 5 VSA 500: “Tính thích hợp (của bằng chứng kiểm toán): Là tiêu chuẩn đánh giá về chất lượng của các bằng chứng kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán phải đảm bảo phù hợp và đáng tin cậy để hỗ trợ cho kiểm toán viên đưa ra các kết luận làm cơ sở hình thành ý kiến kiểm toán”. Bằng chứng kiểm toán cần thu thập phải được đánh giá bởi KTV đối với rủi ro có sai sót.
Tuy nhiên, nhiều bằng chứng kiểm toán được thu thập không có nghĩa là chất lượng bằng chứng kiểm toán được đảm bảo. Để xem xét vấn đề này, KTV cần chú ý đến các nhân tố sau đây: - Nguồn gốc của bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng có nguồn gốc càng độc lập với DN sẽ càng có độ tin cậy cao. - Dạng bằng chứng kiểm toán: Độ tin cậy còn phụ thuộc vào dạng của bằng chứng kiểm toán, chẳng hạn như: + Các bằng chứng vật chất và hiểu biết trực tiếp của KTV về đối tượng kiểm toán được xem là hai dạng bằng chứng có độ tin cậy cao nhất. + Bằng chứng tài liệu có độ tin cậy thấp hơn bằng chứng vật chất.
+ Bằng chứng thu thập qua phỏng vấn có độ tin cậy thấp hơn bằng chứng tài liệu. - HTKSNB của đơn vị: Bộ phận nào có KSNB hữu hiệu thì các bằng chứng kiểm toán có liên quan đến tài liệu kế toán, quy chế kiểm soát… của bộ phận đó sẽ có độ tin cậy cao hơn. - Sự kết hợp giữa các loại bằng chứng: Một nhóm bằng chứng kiểm toán thu thập từ những nguồn khác nhau, ở các dạng khác nhau nhưng cùng xác nhận như nhau về một vấn đề sẽ có độ tin cậy lớn hơn so với từng bằng chứng riêng lẻ.