CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1. Tổng quan về PPTLN trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực 1. Phương pháp thảo luận nhóm 1. Các nghiên cứu trên thế giới Ngay từ thời kì cổ đại, những biểu hiện sơ khai của hình thức TLN đã xuất hiện.
Ở phương Tây, nhà triết học cổ đại Xôcrat (469 – 390 TCN, Hy Lạp) luôn tìm cách khám phá những chân lí chung qua các cuộc đàm thoại. Ông cho rằng: tri thức chung đó là chân lí khách quan thu được trong các cuộc đàm thoại mà ai cũng phải thừa nhận. Vì thế ý kiến chủ quan của mỗi người không phải là tiêu chuẩn của chân lí, mỗi người không thể tự do và tùy ý trong việc lựa chọn các ý kiến trái ngược về sự vật mà phải dựa vào nền tảng chung khách quan đó, để phát hiện ra “chân lí” phải thông qua các cuộc tọa đàm, tranh luận, luận chiến. PP này gồm bốn giai đoạn: “mỉa mai”, “đỡ đẻ”, “quy nạp”, “xác định”[77].
Biện chứng pháp Xôcrat đòi hỏi con người muốn hành động đúng trước hết phải nhận thức đúng, muốn nhận thức đúng phải biết nội hàm khái niệm và muốn định nghĩa khái niệm đúng thì không còn cách nào khác ngoài việc tranh luận. Ở đây, vai trò của tranh luận trong tìm tòi và khám phá tri thức được ông đánh giá rất cao. Với cuốn sách nổi tiếng có tên là “Luận về thuật hùng biện” nghiên cứu nhiều vấn đề về giáo dục và có nhiều tư tưởng tiến bộ, lịch sử giáo dục La Mã Cổ đại đã ghi nhận cống hiến của nhà giáo dục Marco Fabio Quintilian (42-118). Ông cho rằng: “DH không phải là sự cưỡng ép mà phải làm thế nào để họ vui vẻ học tập.
Giảng dạy cần phải thay đổi hình thức và đưa ra nhiều ví dụ. Người học sẽ có rất lợi nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu” [51, tr. Cách tiếp cận của Marco Fabio Quintilian có rất nhiều điểm tương đồng với mục tiêu mà PPTLN hướng tới cũng như ý nghĩa của nó trong hoạt động học tập. Với suy nghĩ điều gì cũng đáng học đặc biệt là học từ bạn bè, từ những người xung quanh, nhà triết học lớn của phương Đông - Khổng Tử (551-479 TCN) đã 8 khẳng định: “Trong ba người đi tất có một người là thầy ta” [51, tr.
Nhận định đó cho thấy ông đã đề cao sự tương tác giữa người học với người học, người dạy với người học, đồng thời khẳng định việc chủ động tìm hiểu tri thức tất yếu sẽ dẫn đến sự trao đổi, tranh luận, hợp tác giữa người học với nhau. Như vậy, để phát triển tư duy của người học, người dạy phải dựa vào đối tượng học tập và sử dụng nhiều PP để kích thích. Để người học dễ dàng tiếp nhận tri thức của bài học dù ở điều kiện nào người dạy cũng luôn phải tạo không khí cởi mở, vui vẻ… những biểu hiện đó chính là kết quả của việc dạy học sử dụng PPTLN hướng tới. Thời Trung cổ, các tư tưởng tiến bộ về giáo dục ít được bàn đến do sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện, nhưng cách DH phát huy tính tích cực của người học được bàn tới trong thời kì Phục Hưng.
Đó là: phải quan tâm đến người học, trong quá trình học người học luôn chủ động trong việc nhận thức tri thức hay GV không được áp đặt việc học tập cho người học mà phải biết lắng nghe ý kiến của họ. Trong cuốn “Lịch sử giáo dục học thế giới” của tác giả Nguyễn Lân có nghiên cứu quan điểm của J. A Comenxki (1592- 1670) nhà giáo dục Tiệp Khắc - thủy tổ của nền giáo dục dân chủ đã tin tưởng rằng người học sẽ có lợi từ việc dạy cho bạn bè và học từ bạn bè, phản đối cách dạy theo lối thuộc lòng, nhồi sọ người học [51]… Trong DH, ông đòi hỏi người thầy phải làm thế nào để cho người học có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức và thích thú học tập. Tư tưởng giáo dục của ông biểu hiện: giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phát triển nhân cách, phán đoán đúng đắn, hãy tìm ra PP cho phép GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn.
Như vậy, biểu hiện cơ sở của TLN là ý tưởng về cách thức DH giúp cho người học phát huy tính tính cực dù không được nghiên cứu trực tiếp nhưng đã có mầm mống từ thời cổ đại cho đến thế kỉ XVIII, XIX. Những thập niên đầu của thế kỉ XX, các quan điểm về DH bằng TLN phát triển mạnh mẽ, các khái niệm liên quan đến TLN được xuất hiện thường xuyên như: “sư phạm theo nhóm”, “hợp tác xã giảng dạy vô tôn giáo”, “PP tổng thể trong học tập”. Các tư tưởng DH về nhóm được nhiều nhà giáo dục trên thế giới quan tâm. Nhà giáo dục học người Đức Georg Michael Kerschenteiner (1854-1932) đã đánh 9 giá rất cao vai trò của việc hợp tác trong nhóm, ông cho rằng: “GV hoàn toàn có thể áp dụng hình thức học tập tự quản theo nhóm để phát triển tính cách của người học, khơi dậy tinh thần trách nhiệm và ý thức cá nhân trong lương tâm mỗi con người đối với cộng đồng, loại bỏ những hành động do động cơ ích kỷ đối với nhóm khác” [91, tr.
Tuy nhiên, theo ông một loại ích kỉ đặc biệt (ích kỉ cộng đồng) sẽ xuất hiện nếu sử dụng không tốt hình thức DH này. Thói ích kỉ của học sinh sẽ được tạo nên nếu ganh đua với động cơ không tốt. Nước Anh là một trong các quốc gia có nền giáo dục rất phát triển thời cận đại. Số HS trên lớp rất đông, việc áp dụng PPTLN làm đau đầu các nhà giáo dục trong nước.
Sáng kiến tiến hành hình thức dạy kèm cặp đã được hai nhà giáo dục người Anh là Ben và Lancanxto đặt ra. Những HS lớn tuổi có kinh nghiệm được dạy trước và họ sẽ thay mặt GV kèm cặp cho nhiều HS khác cùng lớp. Tuy phần nào khắc phục được tình trạng lớp đông và có nhiều trình độ khác nhau bằng cách cho các em học theo nhóm nhưng hình thức học theo "hệ thống kèm cặp" vẫn chưa thực sự có hiệu quả. Ý tưởng học tập theo nhóm được nhanh chóng đưa từ Anh sang Mỹ và đã nhận được sự hưởng ứng, phát triển rộng rãi bởi những nhà giáo dục tiên phong như John Dewey, Roger Parker, Morton Deutch.
Họ đề cao vai trò của nhà giáo trong việc giáo dục HS một cách dân chủ và khía cạnh xã hội của việc học tập. John Dewey cho rằng: “Muốn học cách cùng chung sống trong xã hội thì người học phải được trải nghiệm trong cuộc sống hợp tác ngay từ trong nhà trường. Cuộc sống trong lớp học là quá trình dân chủ hoá trong một thế giới vi mô và học tập phải có sự hợp tác giữa các thành viên trong lớp học”[99, tr. Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về DH bằng PPTLN.
Trong cuốn “Những thủ thuật trong dạy học” của tác giả Wilbert J. McKeachie có nhắc đến quan điểm của nhà giáo dục Nadezhda. Krupskaya (1869 – 1939) về nhiệm vụ cơ bản của người GV: “giúp cho HS tự tổ chức, thân tình gợi ý cho chúng cách tốt nhất để thực hiện nhiệm vụ cho trước, chỉ ra cách nêu lên những câu hỏi thích hợp và làm thế nào để trả lời các câu hỏi đó. Bản thân trẻ cần TL tập thể với các bạn trong nhóm học tập, đưa ra các quyết định 10 và thực hiện các quyết định đó.
Bằng cách đó, chúng sẽ phát triển ý thức trách nhiệm đối với công việc được giao và trở nên có kỉ luật” [94, tr 265]. Trên cơ sở đánh giá cao vai trò của tập thể, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng một trong những vấn đề quan trọng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là giáo dục con người thông qua tập thể.Mác khẳng định: “Chỉ có trong cộng đồng, cá nhân mới có được những phương tiện để có thể phát triển toàn diện những năng khiếu của mình và do đó chỉ có trong cộng đồng mới có tự do cá nhân”[21, tr. Trên cơ sở đó, để thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện con người thì tập thể luôn được coi là môi trường, phương tiện thuận lợi nhất. Cùng chung quan điểm này, các nhà giáo dục học Xô viết như L.Macarenco trong nhiều công trình nghiên cứu của mình đã đề cao tầm quan trọng của sự tương tác giữa người học với người học.Vưgotxky khẳng định: “Sự hợp tác chặt chẽ giữa người học với nhau sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với việc cá nhân HS mò mẫm tìm kiến thức”[56, tr.Macarenco kết luận rằng: “Lý thuyết DH tập thể sẽ được khoa sư phạm đặc biệt chú ý.
Vì thế cần thực hiện công tác giáo dục thông qua tập thể gồm những thành viên cùng lo chung một công việc lâu dài, cùng hợp tác trong tình bạn bè và trong lý tưởng” [1, tr. DH theo nhóm bắt đầu phát triển mạnh từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX rộng khắp trên thế giới. Ở Liên xô (cũ), tư tưởng chủ đạo của DH theo nhóm là làm cho HS thích học, nhận thấy niềm vui trong học tập và tạo không khí học tập thoải mái. Đại diện cho trường phái này là Amonashvily S.
Từ những năm 80 trở lại đây, việc nghiên cứu vấn đề này được đẩy mạnh ở các nước Tây Âu. Các nghiên cứu của Brown và Palinscar, Rosenshine, Meister, Slavin, Renkl tập trung vào xây dựng mô hình và chiến lược DH theo nhóm. Brown và Palinscar cho rằng DH theo nhóm cải thiện rõ rệt cách tư duy của HS và nội dung nhận thức vấn đề cần tranh luận. Theo đó, “cần xây dựng PP dạy lẫn nhau mà ở đó GV và HS thay phiên nhau đóng vai người dạy.
GV phân chia thành những nhóm nhỏ, mọi người trong nhóm vừa là người dạy, vừa là người học. Những HS trong vai trò người dạy sẽ đặt câu hỏi, nêu vấn đề học tập và kết luận những nội dung học tập trong nhóm mình. Các thành viên khác của nhóm tham gia TL, nêu ra 11 các câu hỏi, trả lời, bình luận. Vai trò của các thành viên được thay đổi luân phiên” [98, tr.
Việc hợp tác, theo Slavin, nhằm tạo lập và cải thiện những mối quan hệ xã hội giữa các thành viên. Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ vai trò của DH theo nhóm là tạo lập và cải thiện những mối quan hệ xã hội giữa các thành viên.