CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nhìn qua lịch sử nghiên cứu phê bình Truyện Kiều trước 1954 1. Tiếp nhận Truyện Kiều trong thế kỷ XIX diễn ra trong môi trường văn hóa - tư tưởng phương Đông, phê bình chủ quan dựa vào quan niệm đạo đức; được thực hiện chủ yếu bởi tầng lớp Nho sĩ với các dòng tư tưởng Nho – Phật – Lão để đưa ra quan điểm và lý giải riêng. Các dòng tư tưởng trên được tiếp nhận từ Trung Hoa, thường được gọi chung là quan niệm triết học phương Đông, quan niệm thẩm mỹ của nhà Nho.
Nhiều nhà nghiên cứu về lịch sử phê bình Truyện Kiều phần lớn đều xác định việc đọc Truyện Kiều thế kỷ XIX của các nhà Nho là theo quan điểm đạo đức, quan điểm luân lý. Họ thể hiện ấn tượng về tác phẩm dựa trên sự kích thích của cảm hứng nghệ thuật chứ không chú trọng vào tư duy khoa học. Những cảm tưởng, bình giá của các nhà Nho thường được biểu hiện theo cách thức đề vịnh bằng thơ ca, bài đề tựa hay lời bạt phản ánh xúc cảm riêng tư của người viết. Tuy nhiên, quan điểm tiếp cận vừa nêu lại phân hóa thành nhiều xướng có tính đối lập nhau.
Bản chất của sự phân hóa chưa được lý giải cụ thể ở một số bài viết. Từ những kết quả nghiên cứu về văn hóa học, chúng tôi xin đề xuất một số yếu tố là cơ sở hình thành thái độ đánh giá Truyện Kiều của nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn đã xác định trong bối cảnh hoài nghi đức trị và tinh thần phê phán xã hội[41,78] của văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, sự thể hiện tính hoài nghi ấy trong thơ chữ Hán Nguyễn Du cũng như trong Truyện Kiều là sự “vắng bóng những phạm trù văn hóa chính trị quen thuộc của các thế kỷ trước”[41,80](đức, nhân, nghĩa, thuyền, nước, dân - dân là nước, chở thuyền và lật thuyền là dân). “Trong khi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 14 đó lại xuất hiện những khái niệm khác loại như cõi người ta, những điều trông thấy, địa ngục ở miền trần gian, cõi trần, cõi hồng trần, bụi hồng, kiếp phong trần, bể trần (đều có chữ trần – bụi bặm), vũng lầy… Nguyễn Du không còn hy vọng, ảo tưởng vào khả năng đức trị có thể đem lại xã hội thái bình, thịnh trị” [41,80]. Nhìn vào cách ứng xử của con người đối với thực tại xã hội, sự khủng hoảng của bối cảnh xã hội kéo theo mối hoài nghi đức trị khiến con người phải nhận thức lại bản thân và đời sống, hướng tới những gì là bản thể con người, muốn bứt phá khỏi mọi ràng buộc khắt khe: ý thức giá trị và quyền sống cá nhân, tự do tình yêu và hôn nhân, quan niệm phóng khoáng về các mặt đạo đức.
Các yếu tố đó dẫn đến tình trạng tồn tại những đối cực về cách đánh giá tác phẩm trong bối cảnh ảnh hưởng của văn hóa và tư tưởng phương Đông, dẫn đến việc người khen, người chê; người đồng cảm, người phê phán. Nhà thơ Nguyễn Công Trứ cho rằng Kiều sống trong chốn lầu xanh thì không thể nào cảm thông về mặt đạo đức (Đố đem chữ “hiếu” mà nhầm được ai!). Phạm Quý Thích, Đào Nguyên Phổ bày tỏ sự đồng cảm với nhân vật Thúy Kiều. Riêng cụ Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ thể hiện ấn tượng cả về vẻ đẹp nghệ thuật cùng với nét đặc sắc của chủ đề phản ánh: “tả cảnh thì bày hết thú vị tuyết nguyệt phong hoa, mà cảnh tự vướng tình… thật là một khúc Nam âm tuyệt xướng, một điệu tình phổ bực đầu vậy” [27,163].
Vì Nho giáo là học thuyết chính trị đạo đức nên nhà nho thường tìm từ Truyện Kiều những nguồn cảm hứng bình luận chính trị, đạo đức, nhân đó bộc lộ con người chính trị đạo đức của mình. Những chuyện mổ xẻ, phân tích tác phẩm để tìm nguyên nhân của sức hấp dẫn, thành công của tác phẩm nằm ngoài tầm quan tâm. Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, phê bình Truyện Kiều diễn ra phong phú, sinh động hơn, phân chia hai xu hướng chính là ý thức đấu tranh chính trị và bước đầu vận dụng lý thuyết văn học phương Tây. Đây là thời kỳ giao thoa văn hóa và văn học Đông Tây, đời sống văn học chuyển mình tiếp cận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 15 với thành tựu của văn học Phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp.
Báo chí, in ấn và xuất bản hình thành, kích thích những nhu cầu thẩm mỹ mới. Vào những năm đầu thế kỷ, cách thức phê bình nhìn từ quan điểm tầng lớp Nho sĩ vẫn còn nhưng tính đối thoại, tranh luận trở nên đa dạng hơn. Nhìn bề ngoài, nhiều người nghĩ rằng các nhà Nho yêu nước có tinh thần cách mạng vẫn bàn về Truyện Kiều theo quan điểm luân lý, thực chất quan điểm của các cụ nhằm thể hiện ý thức đấu tranh chính trị. Trong sách Lược khảo văn học, tập 3, Nguyễn Văn Trung đã chỉ ra định hướng “muốn tìm hiểu chủ đích của sinh hoạt văn học, nghệ thuật thời Pháp thuộc chẳng hạn, thiết tưởng không thể tách văn chương ra khỏi chính trị, nhất là đối với những tác giả có hoạt động chính trị hoặc ở phía chống đối như Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Tản Đà, Nhất Linh; hoặc ở phía cộng tác, làm tay sai như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh,…”[55,86].
Vào năm 1924, Phạm Quỳnh viết rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có gì mà lo, có gì mà sợ, có điều chi nữa mà ngờ” [40]. Hơn nữa, “bàn về vai trò của Truyện Kiều đối với tiếng Việt thì trước và sau Phạm Quỳnh đã có nhiều người nói” [40]. Ý kiến của Phạm Quỳnh đã vấp phải nhiều lời chỉ trích, phê phán của các nhà nho yêu nước đương thời. Có lẽ, môi trường chính trị đã chi phối đến cách nhìn nhận của các cụ, và vì Phạm Quỳnh (nhiều nhà nho quy kết là tay sai cho Pháp) đã ca ngợi Truyện Kiều dẫn đến việc các cụ phê phán kiệt tác của Nguyễn Du để minh chứng tác phẩm không thể được xếp vào đại diện cho nền quốc học.
Do vậy mà có những nhận định gay gắt, thậm chí là bất công khi định giá tác phẩm. Bước giao thời của lịch sử xã hội và văn hóa đã hình thành cách thưởng thức, cách tiếp nhận mới, từng bước xác lập nền phê bình chuyên nghiệp, nhà phê bình và người sáng tác tách rời nhau. Nguyễn Văn Hoàn đã khái lược về các trường phái phê bình văn học Pháp (trường phái phê bình của Saint Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 16 Beuve, cho đến các trường phái thực chứng, ấn tượng, cấu trúc…) từ đó chỉ ra xu hướng mới có ý nghĩa khoa học trong công tác nghiên cứu văn học. Đào Duy Anh trong công trình Khảo luận về Kim Vân Kiều truyện (1943) chịu ảnh hưởng khá rõ phương pháp nghiên cứu phê bình của Lanson[40].
Tạp chí Nam phong số 68 (1923) có đăng bài viết bàn về nhân vật Truyện Kiều của Vũ Đình Long, bài viết được nhìn nhận có nhiều điểm mới lạ, độc đáo bởi bài viết là lần đầu tiên áp dụng lý thuyết văn học phương Tây vào phê bình văn học. Vũ Đình Long đi từ cấu trúc tổng thể của tác phẩm tới các yếu tố nội tại của tác phẩm, khai thác cấc vấn đề về bút pháp đặc biệt là nghệ thuật miêu tả để tìm ra quan niệm, triết lý của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Cách thức phê bình của Vũ Đình Long phản ánh cụ thể về tư duy hệ thống, đặt ra yêu cầu tiếp nhận tác phẩm văn chương bằng tinh thần khoa học. Bài viết của Vũ Đình Long ra đời trong bối cảnh các lý thuyết phê bình hiện đại như phê bình bác ngữ học, cấu trúc luận… đang chuẩn bị hình thành hoặc chưa xuất hiện.
Vì vậy, ngôn ngữ phê bình của ông tạo nên sắc thái hiện đại, giàu chất trí tuệ: “Tả cảnh là dùng lời văn mà vẽ ra cảnh, khiến cho độc giả không trông thấy cảnh mà có thể hình dung ra được”[27,231]. Ngoài ra, ông còn quan tâm tới thế giới quan của người nghệ sĩ trong sáng tác, tư tưởng của tác phẩm. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hoàn đã nhận xét: “Cần ghi nhận đây là một mục tiêu, một ý đồ hết sức quan trọng, có ý nghĩa đánh dấu một cái mốc trong lịch sử phát triển của phê bình văn học ở nước ta”. Tại Sài Gòn, năm 1929 có diễn ra cuộc thảo luận về nhân vật Thúy Kiều trên báo Phụ nữ tân văn.
Cuộc thảo luận xoay quanh chủ đề: “Kiều nên khen hay nên chê?” Đây là cuộc thảo luận mang tính chất phê bình văn chương ở Nam Bộ mặc dù quy mô chưa phải là lớn nhưng cũng đã tạo nên sức thu hút đối với nhiều nhà phê bình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 17 Vào những năm 40 của thế kỷ XX, Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu) là người tích cực nhất trong việc vận dụng các lý thuyết mới vào nghiên cứu Truyện Kiều. Trong nhóm các lý thuyết được vận dụng, khuynh hướng phê bình trước 1945 của Nguyễn Bách Khoa thiên về phân tâm học. Nguyễn Bách Khoa là người tiên phong áp dụng lý thuyết phân tâm học của Sigmund Freud vào trong phê bình văn học của mình.
Dựa vào sự thúc đẩy của ẩn ức tình dục, sự chuyển hóa bản năng dục vọng xuống tiềm thức. Nguyễn Bách Khoa phê phán Nguyễn Du xây dựng nhân vật bằng lương tâm bịa đặt, tác giả để cho Kiều từ chối tình yêu sắc dục của Kim Trọng trong cái đêm mà cả nhà đi ăn tiệc bên ngoại chưa về. Đi xa hơn, Nguyễn Bách Khoa cho rằng Nguyễn Du có “cơ thể ốm yếu và thần kinh hốt hoảng”, đa sầu, đa cảm, thần kinh rối loạn. Vì thế, giữa ý thức hệ và tiềm thức luôn xung đột nhau và làm nên "tấn bi kịch của tâm hồn" tức cũng là tâm sự sầu thảm của Nguyễn Du.
Quan niệm phê bình theo thuyết phân tâm học của Nguyễn Bách Khoa phản ánh sự vận dụng còn nhiều máy móc, cực đoan. Tuy vậy, nó đánh dấu bước chuyển ý thức được phải từ bỏ việc tiếp nhận Truyện Kiều theo lối mòn trước đó của các nhà nho, góp phần bổ sung hướng tiếp cận khác đối với văn bản đó là hướng tới tính khách quan trong phê bình văn học.