Hướng dẫn chi tiết phân lập và bảo quản giống nấm sò từ mũ nấm

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu phương pháp phân lập và bảo quản giống nấm sò từ mũ nấm, ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả.

Chuyên ngành

Công nghệ sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2015

49
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. Phần 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích của đề tài

1.2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

1.2.1. Ý nghĩa khoa học

1.2.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học của đề tài

2.2. Giới thiệu chung

2.3. Giá trị dinh dưỡng của nấm sò

2.4. Giá trị dược liệu của nấm sò

2.5. Giá trị kinh tế của nấm sò

2.6. Nuôi cấy nấm sò và sản xuất nấm sò

2.7. Tình hình sản xuất nấm ở Việt Nam và trên thế giới

2.8. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

2.9. Tình hình nghiên cứu trong nước

3. Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Đối tượng nghiên cứu: Nấm sò (Pleurotus spp)

3.3. Hóa chất, nguyên liệu, dụng cụ và thiết bị sử dụng

3.4. Phạm vi nghiên cứu

3.5. Địa điểm và thời gian tiến hành

3.5.1. Địa điểm tiến hành thí nghiệm

3.5.2. Thời gian tiến hành thí nghiệm

3.6. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.6.1. Nội dung nghiên cứu

3.6.2. Các chỉ tiêu theo dõi

3.7. Phương pháp nghiên cứu

3.7.1. Phương pháp phân lập nấm sò

3.7.2. Phương pháp tạo giống cấp 1 trên môi trường thóc sau khi sợi nấm lan kín mặt thạch

3.7.3. Lựa chọn môi trường tối ưu

3.7.4. Giữ giống nấm

3.7.5. Phương pháp nhân giống cấp 1

4. Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Phương pháp phân lập nấm sò

4.2. Phương pháp tạo giống cấp 1 trên môi trường thóc sau khi sợi nấm lan kín mặt thạch

4.3. Lựa chọn môi trường tối ưu

4.4. Sản xuất nấm sò quy mô phòng thí nghiệm

5. Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Phương pháp phân lập nấm sò

Phương pháp phân lập là bước đầu tiên trong quy trình nghiên cứu và bảo quản giống nấm sò. Quá trình này bắt đầu bằng việc thu thập mẫu từ mũ nấm, sau đó tiến hành nuôi cấy trên môi trường thạch. Môi trường thạch được chuẩn bị từ các thành phần như khoai tây, peptone, và glucose, nhằm tạo điều kiện tối ưu cho sự phát triển của sợi nấm. Kỹ thuật này đòi hỏi sự chính xác trong việc lựa chọn mẫu và điều kiện nuôi cấy để đảm bảo sự phát triển của giống nấm sò.

1.1. Thu thập mẫu mũ nấm

Việc thu thập mẫu từ mũ nấm là bước quan trọng để đảm bảo chất lượng giống. Mẫu được lấy từ những cây nấm khỏe mạnh, không bị nhiễm bệnh. Sau đó, mẫu được xử lý và cấy vào môi trường thạch để bắt đầu quá trình phân lập.

1.2. Nuôi cấy trên môi trường thạch

Môi trường thạch được chuẩn bị từ các thành phần dinh dưỡng như khoai tây, peptone, và glucose. Đây là môi trường lý tưởng để sợi nấm phát triển. Quá trình nuôi cấy được thực hiện trong điều kiện vô trùng để tránh nhiễm khuẩn.

II. Kỹ thuật bảo quản giống nấm sò

Bảo quản giống nấm sò là quá trình quan trọng để duy trì chất lượng và khả năng sinh sản của giống. Các phương pháp bảo quản bao gồm sử dụng môi trường thạch, bảo quản lạnh, và bảo quản trong chai thóc. Mỗi phương pháp có ưu nhược điểm riêng, nhưng đều hướng đến mục tiêu kéo dài thời gian sử dụng của giống nấm.

2.1. Bảo quản trên môi trường thạch

Môi trường thạch là phương pháp phổ biến để bảo quản giống nấm. Sợi nấm được nuôi cấy trên thạch và bảo quản ở nhiệt độ thấp để làm chậm quá trình trao đổi chất, từ đó kéo dài tuổi thọ của giống.

2.2. Bảo quản trong chai thóc

Chai thóc là phương pháp bảo quản hiệu quả, đặc biệt khi cần lưu trữ giống trong thời gian dài. Sợi nấm được nuôi cấy trong chai thóc và bảo quản ở nhiệt độ thấp, giúp duy trì chất lượng giống.

III. Hiệu quả của phương pháp phân lập và bảo quản

Hiệu quả bảo quản của các phương pháp được đánh giá dựa trên khả năng duy trì chất lượng và khả năng sinh sản của giống nấm. Các nghiên cứu cho thấy, việc kết hợp giữa phương pháp phân lậpkỹ thuật bảo quản hiện đại giúp tăng cường hiệu quả sản xuất nấm sò, đồng thời giảm thiểu rủi ro trong quá trình nuôi trồng.

3.1. Đánh giá chất lượng giống

Chất lượng giống được đánh giá dựa trên tốc độ phát triển của sợi nấm và khả năng hình thành quả thể. Các giống được bảo quản tốt sẽ cho năng suất cao và ổn định.

3.2. Ứng dụng trong sản xuất

Các phương pháp phân lập và bảo quản giống nấm sò đã được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nấm tại Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và đáp ứng nhu cầu thị trường.

02/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Nấm ăn là một trong những loại thực phẩm được nhiều người tin cậy lựa chọn để sử dụng hàng ngày. Chúng được xem như là một loại “rau sạch”, “thịt sạch”. Cây nấm có thành phần dinh dưỡng rất cao như: Giàu protein, gluxit, các axit amin, vitamin, chất khoáng…, nấm còn có các hoạt chất sinh học như: Các chất đa lượng, các axit nucleic, cellulose, vitamin…. Ngoài ra nấm còn có tác dụng làm thuốc như: Làm thuốc phòng chống khối u, tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, thuốc trợ tim, làm giảm lượng mỡ trong máu, giải độc bổ gan, bổ dạ dày, hạ đường huyết, chống phóng xạ… (như nấm linh chi, mộc nhĩ trắng, nấm hương).

Ngoài ra, việc sản xuất nấm còn tận dụng được các sản phẩm phụ như bông phế liệu, rơm rạ, mùn cưa, cỏ, bã mía làm nguyên liệu cho sản xuất nấm, góp phần bảo vệ môi trường - hạn chế ô nhiễm môi trường. Nấm sò hay còn gọi là nấm bào ngư đang được trồng rộng rãi ở nhiều vùng trên cả nước vì sản xuất nấm sò không đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật quá phức tạp. Mặt khác, nó lại mang lại giá trị dinh dưỡng rất cao. Đặc biệt, dựa trên nhu cầu thị trường, lợi ích kinh tế của nghề nuôi trồng nấm rất lớn nếu như nó được mở rộng trên quy mô công nghiệp.

Với mục tiêu tìm hiểu, học tập các kỹ thuật trong lĩnh vực Công nghệ sinh học về việc nghiên cứu và phát triển nghề nuôi trồng nấm (nấm sò nói riêng và nuôi trồng nấm nói chung), chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân lập và bảo quản giống nấm sò từ mũ nấm”. Đề tài tiến hành trong thời gian sáu tháng, tại trường Đại học Nông Lâm Thái nguyên, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.Mục đích của đề tài - Tìm hiểu về các kĩ thuật thu thập mẫu nấm - Nghiên cứu và xây dựng quy trình phân lập giống nấm ăn, ứng dụng vào thực tiễn sản xuất - Tạo ngân hàng giống nấm. - Nuôi cấy và thu nhận nấm sò ở qui mô nhỏ - Nghiên cứu phát triển sản phẩm nấm ăn theo hướng phát triển kinh tế trong tương lai 1. Mục tiêu - Phân lập được giống nấm sò - Lưu giữ bảo quản trong ngân hàng giống - Thu nhận được thể quả từ giống nấm sò phân lập được.

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu phương pháp phân lập nấm sò và hướng áp dụng cho phân lập các giống nấm khác, bao gồm cả giống nấm hoang dại. - Bảo quản giống nấm sò phân lập được phục vụ cho các nghiên cứu thuộc lĩnh vực Công nghệ sinh học trong tương lai. Ý nghĩa thực tiễn Khai thác tiềm năng kinh tế của giống nấm sò, đáp ứng nhu cầu thị trường về thực phẩm.

e 3 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Giới thiệu chung Nấm (Fungi) được xếp vào một giới riêng. Nấm không có diệp lục, sống dị dưỡng bằng cách hoại sinh trên xác của thực vật, hoặc các chất hữu cơ rữa nát.

Các nấm ăn thuộc vào 2 nhóm: Nấm đảm và nấm túi. Chúng có thành tế bào cấu tạo chủ yếu bằng kitin-glucan thường được xếp vào ngành phụ nấm túi (Ascomycotina) và ngành phụ nấm đảm (Basidiomycotina). Nấm túi là một lớp lớn, có đặc điểm chung là sợi nấm rất phát triển, vách ngăn ngang của sợi nấm chưa hoàn chỉnh. Sinh sản hữu tính bằng các bào tử được sinh ra trong túi (gọi là ascus-là một khoang rỗng, chứa bào tử, được tạo thành bởi sợi nấm) gọi là bào tử túi, bào tử có vai trò là “hạt giống”, sẽ tạo nên cơ thể nấm khi có điều kiện thích hợp.

Sinh sản vô tính bằng đính bào tử (không có túi bao bọc). Số loài nấm ăn thuộc ngành phụ nấm túi thường chiếm tỉ lệ 5,6%. Nấm đảm có hệ sợi nấm rất phát triển, sợi nấm có vách ngăn ngang chưa hoàn chỉnh. Sinh sản vô tính bằng đính bào tử, sinh sản hữu tính bằng bào tử đảm hình thành ngoài đảm.

Đảm là tế bào đỉnh phình to lên của 1 sợi nấm song nhân mọc ở phiến nấm trong quả thể. Tế bào này gọi là nguyên đảm. Nhân trong nguyên đảm tiến hành quá trình phối nhân để tạo ra hợp tử 2n (nhị bội thể). Hợp tử này phân cắt giảm nhiễm để tạo ra bốn nhân đơn bội (1n).

Bốn nhân đơn bội này chui vào bốn mấu lồi phình to ở phía đầu đảm và sau đó phát triển thành 4 bào tử đảm (hình 2.1: Chu kỳ phát triển của nấm đảm Ở nấm đảm thường có tới 3 cấp sợi nấm. Sợi nấm cấp một (sơ sinh), sợi nấm cấp hai (thứ sinh) và sợi nấm cấp ba (tam sinh). Sợi nấm cấp một lúc đầu không có vách ngăn và có nhiều nhân, dần dần sẽ tạo vách ngăn và phân thành những tế bào đơn nhân trong sợi nấm. Sợi nấm cấp hai được được tạo thành do sự phối trộn giữa hai sợi nấm cấp một.

Khi đó, nguyên sinh chất giữa hai sợi nhấm khác nhau sẽ trộn với nhau. Hai nhân vẫn đứng riêng rẽ làm cho tế bào đó có hai nhân. Người ta coi đó là sợi nấm song nhân. Sợi nấm cấp ba là do sợi nấm cấp hai phát triển thành.

Quả thể nấm đảm do các sợi nấm song nhân liên kết lại tạo thành. Đa số các loại nấm đảm đều ăn được và có giá trị về mặt kinh tế. Các chi nấm thuộc ngành phụ nấm đảm bao gồm: Nấm sò, nấm rơm, nấm mỡ, nấm hương (Nguyễn Lân Dũng, 2008) [1]. Đặc điểm sinh học của nấm sò Nấm sò thuộc ngành nấm đảm.

Ở Việt Nam, nấm sò trước đây mọc chủ yếu hoang dại và có nhiều tên gọi khác nhau: Nấm sò, nấm hương chân trắng hay chân ngắn (miến bắc), nấm dai (miền nam), nấm bình cô. Việc nuôi trồng nấm này phục vụ cho nhu cầu thực phẩm và dược liệu bắt đầu khoảng 20 năm trở lại đây và đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người dân. Tên khoa học của nấm sò là Pleurotus spp., nấm sò có tới 50 loài khác nhau. Tuy nhiên số loài nuôi trồng được không nhiều, khoảng 10 loài.

Đặc điểm chung của nấm sò là tai nấm dạng hình phễu, phiến mang bào tử kéo dài xuống đến chân cuống nấm, gần gốc có lớp lông nhỏ mịn. Tai nấm còn non có màu sắc sậm hoặc tối nhưng khi trưởng thành có màu sắc sáng hơn. Khi nấm trưởng thành bào tử nấm chín và phát tán ra khỏi mũ nấm. Các luồng không khí đưa bào tử nấm rải rác ra xung quanh gặp điều kiện môi trường thích hợp từ bào tử nấm mọc ra sợi nấm cấp 1 phát triển thành từng sợi riêng rẽ, sau một thời gian các tế bào sợi nấm khác nhau giao phối với nhau thành hệ sợi nấm cấp 2.

Hệ sợi nấm cấp 2 gồm các tế bào có 2 nhóm. Sau một thời gian phát triển từ các tế bào 2 nhân mọc lên quả thể và phát triển thành cây nấm hoàn chỉnh. Nấm Pleurotus spp có khả năng chuyển hoá các chất xơ, sợi giàu cellulose và lignin, đây là khả năng phân hủy các polysacchride tự nhiên để tạo nên nguồn carbon cho nấm sinh trưởng phát triển. Hầu hết các loại phụ phế liệu, các chất phế thải của nông, lâm, công nghiệp đều có thể được nấm e 6 sò sử dụng hiệu quả.

Đây là nguồn tài nguyên nấm quí đang được công nghệ hóa rộng rãi ở Việt nam, góp phần phát triển nông thôn, miền núi và giải quyết các loại phụ, phế liệu công, nông, lâm nghiệp giàu chất xơ (lignocellulosic wastes), góp phần cung cấp sinh khối có giá trị kinh tế cao, bã thải lại là nguồn phân bón sinh học sạch.2: Hình dạng nấm sò A: cấu trúc nấm sò; B: Nấm sò nuôi trồng thương mại (Hình ảnh được tham khảo từ các nguồn trên internet) Các chủng nấm sò thường khác nhau về màu sắc, hình dạng, kích thước, khả năng thích nghi với điều kiện nhiệt độ. Nhu cầu dinh dưỡng của nấm sò Các nguồn dinh duỡng cho nấm sò cũng như các loại nấm ăn thường chứa nhiều chất xơ, chất đường, bột, các chất cung cấp nguồn C, N. Nấm sò có hệ men phân giải tương đối mạnh, giúp chúng có thể sử dụng các dạng thức ăn đó để nuôi e 7 sống cơ thể. Với cấu trúc dạng sợi, tơ nấm len lỏi sâu vào trong cơ chất (rơm rạ, mùn cưa, gỗ…) hấp thụ thức ăn để nuôi toàn bộ cơ thể nấm.

a) Nguồn Carbon (C) Nấm cần nguồn đường, tinh bột rất lớn trong quá trình sinh truởng và phát triển, vì vậy khi nuôi trồng nhân tạo, môi trường (giá thể) nuôi nấm thường được bổ sung các chất như bột bắp (bột ngô) hay cám gạo. Nấm sử dụng chất đường, bột để tổng hợp sinh khối, bao gồm các thành phần cấu tạo nên sợi nấm và các hợp chất liên quan đến hoạt động sống. Nói chung nhu cầu về các chất đường, bột như là yếu tố bắt buộc không thể thiếu, nếu không có nó nấm không thể sinh trưởng và phát triển được. Ngoài ra, nấm sò còn chuyển hóa chất xơ, glucose và lignin, có khả năng phân hủy cellulose từ rơm rạ, bã mía, mùn cưa… Để tạo nguồn carbon làm chất dinh dưỡng cho nấm phát triển.

b) Nguồn N Chất đạm cũng là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu được ở nấm. Các nguồn đạm hữu cơ bổ sung trong trồng nấm sò ở các dạng như bánh dầu, bã đậu nành. Một số nguồn đạm vô cơ dùng trong trồng nấm như phân urê, phân sunphat amôn (SA), diamôn phosphat (DAP). c) Chất khoáng và vitamin Các vitamin để hệ sợi nấm phát triển: Vitamin B1, vitamin B, vitamin H.

Các chất khoáng đa lượng như: Phospho (P), kali (K), canxi (Ca), lưu huỳnh (S), magie (Mg). Ví dụ như: phân lân cung cấp phospho, phân kali cung cấp nguyên tố kali, hoặc phân hỗn hợp NPK cung cấp cả đạm, phospho và kali. Các nguyên tố vi lượng cũng có vai trò không thể thiếu được như: Sắt (Fe), kẽm (Zn), mangan (Mn), được cung cấp bổ sung khá phổ biến trong quá trình trồng nấm. e 8 d) Nước Nấm sò cần lượng nước rất lớn trong quá trình sinh truởng và phát triển, nước chiếm 80 – 85% tổng trọng luợng.

Nếu thiếu nước, quả thể sẽ cằn cỗi, thậm chí teo cứng lại, nhẹ cân và rất dai. Nếu thừa nước, quả thể sẽ vàng nhũn và rủ xuống. Nguồn nước tưới phải sạch, nếu nước bẩn sẽ lây nhiễm các mầm bệnh cho nấm, làm ức chế sự phát triển của quả thể, thậm chí làm chết quả thể. Nguồn nước tưới không bị nhiễm phèn hoặc nhiễm mặn.

Nếu không quả thể hình thành sẽ bị dị dạng như bông cải, teo dầu, khô cứng hoặc bị chết non.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ