Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG SỐ LIỆU THỐNG KÊ TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 12 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1. Những vấn đề về đổi mới giáo dục phổ thông 1. Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện hành đang thực sự là một cuộc cải cách, căn bản, toàn diện nền giáo dục nước nhà, giữ vai trò quyết định trong chiến lược phát triển con người Việt Nam của thời đại mới, bởi vậy nội dung này được toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội quan tâm. Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục trung học nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản, đặc biệt trong các văn bản sau đây: Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam; Luật Giáo dục số 38/2005/ QH11; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ; gần đây nhất là chương trình Giáo dục phổ thông môn Địa lí (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ: “Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” [4]. Nghị quyết Hội nghị TW 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng và phát triển năng lực”; [2] “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phẩm chất, năng lực của người học”; “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” [4]. Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực Trong chương trình giáo dục mới, khác với trước đây định hướng nội dung, giáo dục theo định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc hình thành và phát triển năng lực của người học, với những qui định cụ thể về kết quả đầu ra mong muốn của người học. Bởi vậy giáo dục theo định hướng phát triển năng lực ngày nay là nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức. Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, chương trình định hướng nội dung với việc tập trung về việc truyền thụ tri thức khoa học đã được chuyển sang chương trình định hướng năng lực chú trọng đến phát triển các năng lực của người học, đảm bảo cho người học phát triển toàn diện cả về nhân cách, khả năng vận dụng các kỹ năng vào giải quyết các tình huống thực tiễn, luôn xác định người học là chủ thể quan trọng nhất của quá trình nhận thức.
Chương trình dạy học định hướng năng lực, mục tiêu học tập được mô tả chi tiết, có thể quan sát, đánh giá được và được thực hiện trong suốt quá trình học. Học sinh cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình, hình thành và phát triển các năng lực của bản thân. Hiệu quả của chương trình giáo dục định hướng năng lực là tạo điều kiện quản lý chất lượng quá trình giáo dục theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của học sinh, không chỉ dừng lại ở những số lượng. Nội dung dạy học trong chương trình dạy học định hướng năng lực không quy định chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình đào tạo, căn cứ vào đối tượng, bối cảnh và 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều kiện người dạy lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học, tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn.
So sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng kết quả đầu ra Chương trình định hướng nội dung Chương trình định hướng năng lực Mục tiêu Mục tiêu dạy học được mô tả không Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và không nhất thiết phải quan chi tiết và có thể quan sát, đánh giá sát, đánh giá được. được, thể hiện được mức độ tiến bộ của học sinh một cách liên tục.[2] Nội dung Việc lựa chọn nội dung vào các Lựa chọn những nội dung nhằm đạt khoa học chuyên môn, không gắn được năng lực đầu ra đã quy định, với các tình huống thực tiễn. Nội gắn với các tình huống thực tiễn. dung được quy định chi tiết trong Chương trình chỉ quy định những nội chương trình.
dung chính, không quy định chi tiết. Phương Giáo viên là người truyền thụ tri Giáo viên chủ yếu là người tổ chức, pháp dạy thức, là trung tâm của quá trình dạy hỗ trợ; học sinh tự lực và tích cực học học. Học sinh tiếp thu thụ động lĩnh hội tri thức. Chú trọng sự phát những tri thức được quy định sẵn.
triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giáo tiếp. Đánh giá Tiêu chí đánh giá được xây dựng Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực chủ yếu dựa trên sự ghi nhớ và tái đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong hiện nội dung đã học. quá trình học tập, chú trọng khả Quá trình đánh giá diễn ra trong năng vận dụng trong các tình huống suốt quá trình học. Khái niệm về năng lực và định hướng phát triển năng lực Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh “competentia”.
Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau. Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. Khái niệm năng lực được dùng ở đây là đối tượng của tâm lý, giáo dục học. Có nhiều định nghĩa 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác nhau về năng lực: “Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm”[ 8].
Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động. Năng lực hành động là một loại năng lực, nhưng khi nói phát triển năng lực người ta cũng hiểu đồng thời là phát triển năng lực hành động. chính vì vậy trong lĩnh vực sư phạm nghề, năng lực còn được hiểu là: “khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [18]. Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được sử dụng như sau: Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành.
Trong chương trình, những nội dung học tập và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực. Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn. Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học về mặt phương pháp. Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống.
Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học. Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các tiêu chuẩn nghề; Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể phải đạt được những gì? Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực: Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV- HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả học tập cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau.