CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN DƯỢC LIỆU HY THIÊM 1. Vị trí phân loại Cây hy thiêm có tên khoa học là Siegesbeckia orientalis L., thuộc họ Cúc (Asteraceae), hay còn gọi là Cỏ đĩ, Cứt lợn, Hy kiểm thảo, Hy tiên, Niêm hổ thái, Chư cao, Hổ cao, Chó đẻ hoa vàng, Nụ áo rìa,. [2] Vị trí phân loại của Siegesbeckia orientalis L.
trong giới thực vật: Giới: Thực vật (Plants) Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) Bộ Cúc (Asterales) Họ Cúc (Asteraceae) Chi Siegesbeckia [1] 1. Đặc điểm thực vật và phân bố Hy thiêm là loài cây cỏ sống hàng năm, cao chừng 30 - 40cm đến 1m, có nhiều cành, có lông tuyến. Lá mọc đối, cuống ngắn hình ba cạnh hay thuôn hình quả trám, đầu lá nhọn, phía cuống thót lại, mép có răng cưa, mặt dưới hơi có lông, dài 4 - 10cm, rộng 3 - 6cm. Cụm hoa hình đầu, màu vàng, cuống có lông tuyến dính.
Có 2 loại lá bắc không đều nhau: lá bắc ngoài hình thìa dài 9 -10mm, mọc tỏa ra thành hình sao, có lông dính; các lá bắc trong dài 5mm, hợp thành một tổng bao tất cả đều mang lông tuyến dính. Quả bế đen hình trứng, 4 - 5 cạnh dài 3mm, rộng 1mm. Mùa ra hoa: tháng 4 - 5 đến tháng 8 - 9, mùa quả: tháng 6 - 10. hiện có 2 loại ở Việt Nam là hy thiêm và hy thiêm núi.
Hy thiêm phân bố nhiều ở các vùng có khí hậu cận nhiệt đới và nhiệt đới như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia,. Ở Việt Nam, cây phân bố chủ yếu ở vùng núi và trung du phía Bắc như Hà Giang, Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang,., đến các tỉnh miền trung như Thanh Hóa, Nghệ An và các tỉnh Tây Nguyên. Cây ưa sáng và ưa ẩm, thường mọc tập trung trên đất ẩm ở các bãi sông, ruộng hoang, ruộng trồng ngô và ven đường đi. Hàng năm, cây con 2 mọc từ hạt vào tháng 4 - 5, sinh trưởng nhanh và ra hoa ngay cuối mùa hè hoặc đầu mùa thu, tàn lụi vào mùa đông.
Vỏ quả có lông dính, dễ dàng phát tán nhờ con người và động vật [8]. Cây hy thiêm (Siegesbeckia orientalis L. Bộ phận dùng Phần trên mặt đất, thu hái vào tháng 4 - 6 lúc cây sắp ra hoa hoặc mới có ít hoa, chọn cây nhiều lá, loại bỏ lá sâu, cắt lấy phần từ ngọn trở xuống, dài 30 - 50cm, đem phơi hay sấy khô. Dược liệu còn nguyên lá khô không mọt, không vụn nát là tốt [8].
Thành phần hóa học Các nghiên cứu về hy thiêm cho thấy, thành phần hóa học chính của loài này (và các loài cùng chi Siegesbeckia) gồm các terpenoid và flavonoid. Các terpenoid gồm chủ yếu là diterpenoid thuộc nhóm ent-pimaran và các glycosid của chúng và các sesquiterpen (Hình 1. Năm 2004, Xiang và cộng sự phát hiện 8 ent-pimaran diterpenoid và diterpenoid glycosid mới (chất 1-7 và 9) cùng với các diterpen đã biết (8,10-15) [9]. Cũng nhóm tác giả này vào năm tiếp theo đã phân lập được 5 chất thuộc nhóm sesquiterpenoid [9].
Gần đây, Wang và cộng sự đã tìm ra 6 ent-pimaran diterpenoid mới từ dịch chiết ethanol hy thiêm (chất 16-21) [10]. 3 Các nghiên cứu cũng khẳng định, thành phần hóa học của hy thiêm Việt Nam có chủ yếu diterpenoid (daturosid, orientin, orientalid) và flavonoid. Nguyễn Hải Nam đã phân lập được hai diterpen từ hy thiêm đặt tên là kirenol và pobetalin, đã chứng minh độc tính trên tế bào ung thư của hai chất này [11]. Lê Thị Kiều Nhi đã phân lập được các chất trong cây hy thiêm Việt Nam có flavonoid và terpenoid (daturosid).
Trong đó, quercetin-3-rhamnoglucosid (rutin), một hoạt chất tự nhiên có nhiều ứng dụng điều trị, với hàm lượng xác định được là 1,85.10⁻² % tính theo dược liệu khô. Trong phân đoạn n-butanol, hàm lượng này là 2,65% [12]. Năm 2004, Phan Minh Giang phát hiện một ent-pimaran glucosid mới trong cây hy thiêm và được đặt tên là hythiemosid B. Cấu trúc các diterpenoid thuộc nhóm ent-pimaran và các glycosid của chúng được phân lập từ hy thiêm [9-10] 4 Kirenol Pubetalin Hythiemosid B Rutin Hình 1.
Cấu trúc hóa học của các chất được phân lập từ cây hy thiêm Việt Nam 1. Công dụng Theo tài liệu cổ, hy thiêm có vị khổ, tính hàn, hơi có độc, quy vào 2 kinh can và thận. Hy thiêm có công năng trừ phong thấp, lợi gân cốt [2]. Dược liệu này được dùng khá phổ biến trong đông y để điều trị phong thấp, tê bại, khớp sưng nóng đỏ và đau nhức, đau lưng mỏi gối, mụn nhọt, lở ngứa, kinh nguyệt không đều.
Các bài thuốc điều trị thống phong, chữa phong thấp có chứa dược liệu này như: Thuốc phong phương - Trương Huệ Thần (thương truật, hoàng bá, ngưu tất, hải đồng bì, khương hoàng, uy linh tiên, hy thiêm thảo, mao đông thanh, hắc lão hổ, nhập địa kim ngưu), bài thuốc chữa phong thấp của Hải Thượng Lãn Ông (hy thiêm, vỏ chân chim, rễ cỏ chỉ, rễ rung rúc, cỏ roi ngựa, cây bạc sau, cỏ nụ áo, ngò đất), bài thuốc chữa đau nhức các khớp không có nóng đỏ (hy thiêm, thổ phục linh, ké đầu ngựa, rễ vòi voi, uy linh tiên, tỳ giải, ý dĩ, cam thảo nam, quế chi, bạch chỉ).[8] Hiện nay, trên thị trường xuất hiện nhiều chế phẩm có chứa dịch chiết hy thiêm dưới các dạng bào chế hiện đại và cũng chủ yếu điều trị các bệnh về khớp như thống phong, viêm khớp dạng thấp như Traly Gout (Hy thiêm thảo, Dây đau xương, Thổ phục linh, Hổ trượng căn, Ba kích, Tỳ giải, Đào nhân, Hoàng bá), Gút Tuệ Linh (hy thiêm thảo, dây đau xương, nhũ hương, nhân sâm, hoàng bá, đỗ trọng, đào nhân, nghệ 5 vàng, thục địa, thổ phục linh, tỳ giải), Hoàng Thấp Linh (bạch thược, hy thiêm, sói rừng, nhữ hương, pregnenolon, L-carnitin fumarat, magnesium), Xi xian feng shi wan (Herba Siegesbeckia orientalis L., Radix Clematidis, Ramulus Mori, Ramulus Taxilli (Taxillus chinensis), Radix Stephaniae tetrandrae). Trong y học Trung Quốc, hy thiêm được dùng phối hợp với các cây thuốc khác để điều trị ung thư, chảy máu não kèm theo chứng liệt. Ở một số nơi, hy thiêm được dùng với tác dụng gây liền sẹo ở bên ngoài và bên trong cơ thể, dịch ép rễ hy thiêm trị vết thương; cao toàn cây có tác dụng kháng khuẩn, trị thương tổn da, bệnh hoa liễu và nấm da, làm thuốc tẩy và chống nôn [8]. Tại Bangladesh, hy thiêm là một trong các cây thuốc được dùng phổ biến để phòng và điều trị các bệnh liên quan đến tim mạch [14].
Ở Uganda, hy thiêm còn được dùng để lợi sữa [15]. Tác dụng sinh học của hy thiêm 1. Tác dụng chống viêm Nghiên cứu trên chuột cống trắng cho thấy, lá hy thiêm có tác dụng ức chế khá mạnh viêm cấp tính trên mô hình gây phù bàn chân chuột và ức chế viêm mạn tính, gây teo tuyến ức chuột cống non. Hơn nữa, hy thiêm còn có tác dụng giảm tỷ lệ 𝛾- globulin trong huyết thanh khi dùng phối hợp trong bài thuốc gồm hy thiêm, mộc qua, thiên niên kiện và ngưu tất [8].
Kirenol phân lập từ hy thiêm đã được chứng minh có tác dụng chống viêm, giảm đau tại chỗ trên chuột thực nghiệm [16]. Hiện nay, cơ chế chống viêm của hy thiêm chưa được xác định. Tuy nhiên, có tác giả đã chứng minh hy thiêm không ức chế rõ rệt COX-2 (cyclooxygenase 2) và iNOS (inducible nitric oxide synthase) [17-18]. Tác dụng chống oxy hóa Dịch chiết methanol và ethyl acetat của hy thiêm có hiệu quả chống oxi hóa (đặc biệt là dịch chiết methanol) [19].
Hy thiêm chống oxy hóa trên cả gốc tự do OH- và O2-.Trên anion O2-, dịch chiết nước có tác dụng mạnh còn trên OH- phân đoạn butanol có hiệu quả cao. Đặc biệt, khi nghiên cứu sâu về cơ chế chống oxy hóa trên O2-, có tác giả còn thấy, phân đoạn butanol chống oxy hóa mạnh trên dịch treo mô não đồng thể và màng hồng cầu [20]. Tác dụng ức chế miễn dịch Dịch chiết ethanol của hy thiêm thể hiện tác dụng ức chế miễn dịch in vitro và in vivo trên chuột nhắt trắng với các liều thử nghiệm 0,25, 0,5 và 1,0mg/ mỗi 7 ngày 6 trong vòng 28 ngày. Dịch chiết ethanol hy thiêm có tác dụng làm giảm nồng độ IgG, IgG1 và IgG2b [21].
Tác dụng chống dị ứng Dịch chiết nước hy thiêm có tác dụng chống dị ứng do ức chế sản xuất IgE từ lympho B, giải phóng histamin từ tế bào mast và kháng histamin [8,22]. Đối với tế bào u hắc sắc tố Hai chất pubetalin và kirenol được phân lập từ phân đoạn ethyl acetat hy thiêm thể hiện độc tính rất mạnh đối với dòng tế bào u hắc sắc tố B16 ở chuột [11]. Tác dụng trên chuyển hóa lipid Tác dụng của hy thiêm đối với chuyển hóa lipid ở động vật thí nghiệm đã được nghiên cứu. Dược liệu gây giảm cả 3 chỉ số: cholesterol máu, tỷ số β/𝛼 lipoprotein máu và mức lipid toàn phần trong máu động vật thí nghiệm [8,23].
Kháng khuẩn Khi phân lập và thứ tác dụng sinh học, Lê Kiều Nhi đã chứng minh rutin (quercetin-3-rhamnoglucosid) có hoạt tính kháng khuẩn (trên chủng vi khuẩn gram dương) và kháng nấm (nhưng không có tác dụng trên nấm Candida albicans) [12]. Các tác dụng khác Hy thiêm cũng được chứng minh có tác dụng hạ huyết áp, an thần, hạ đường huyết, kháng acetylcholin và rút ngắn thời gian tiêu fibrin [8,23]. TỔNG QUAN VỀ CÁC CHẤT PHÂN TÍCH TRONG HY THIÊM 1. Công thức hóa học: Hình 1.
Cấu trúc hóa học của acid chlorogenic [24] 7 - Công thức phân tử: C16H18O9 - Trọng lượng phân tử: 354,31 g/mol - Tên khoa học theo hệ thống IUPAC: (1S,3R,4R,5R)-3-[(E)-3-(3,4- dihydroxyphenyl)prop-2-enoyl]oxy-1,4,5-trihydroxycyclohexane-1- carboxylic acid - Tên khác: 3-O-Caffeoylquinic acid 3-(3,4-Dihydroxycinnamoyl) quinic acid 3-Caffeoylquinic acid (E)-chlorogenic acid [24]. Tính chất vật lý Acid chlorogenic (CGA) là chất rắn, dạng bột màu trắng hoặc hơi ngả vàng, tan được trong nước và trong dung môi hữu cơ như ethanol, methanol, dimethyl sulfoxyd, dimethylformamid. Đây là một chất khá bền vững, điều kiện bảo quản tốt nhất là 4⁰C [25]. Nhiệt độ nóng chảy: 205 – 209⁰C; Độ hòa tan: 40mg/mL ở 25⁰C [24].
Tác dụng dược lý: CGA là một trong những hợp chất aicd phenolic có thể tìm thấy nhiều trong tự nhiên, đặc biệt là chiết xuất cà phê và trà xanh. Đây là một hợp chất hoá học mang hoạt tính sinh học quan trọng, đóng vai trò như chất chống oxy hóa, kháng khuẩn, chống viêm, quét gốc tự do cũng như bảo vệ một số cơ quan của cơ thể. CGA có khả năng bảo vệ gan bằng cách bảo vệ cơ thể khỏi các tổn thương do hóa chất hoặc lipopolysacarid gây ra [26]. Năm 2017, Tajik và các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tổng quan về tác dụng tiềm năng của CGA đối với các dấu ấn sinh học của bệnh lý mãn tính trên động vật và người in vivo.