Tổng quan luận án

Nghiên cứu các hợp chất thiên nhiên từ nguồn thực vật đóng vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm các tiền chất và cấu trúc dẫn đường cho ngành công nghiệp hóa dược. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, trên 80% dân số toàn cầu sử dụng nguồn dược liệu tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh. Việt Nam có hệ thực vật phong phú với khoảng 337 họ, 2.585 loài, trong đó có khoảng 3.800 loài được sử dụng làm thuốc trong y học cổ truyền. Trong số các họ thực vật được quan tâm, họ Cáng lò (Betulaceae) và họ Gừng (Zingiberaceae) chứa nhiều nhóm hoạt chất có giá trị như tecpenoit, diarylheptanoit, và flavonoit với nhiều tác dụng dược lý.

Tuy nhiên, nguồn tài nguyên thực vật tại các vùng sinh thái đặc thù của Việt Nam vẫn còn nhiều loài chưa được nghiên cứu toàn diện về mặt hóa học. Nhằm giải quyết khoảng trống này, luận án tiến sĩ hóa học của nghiên cứu sinh Trương Thị Tố Chinh với đề tài "Nghiên cứu thành phần hóa học của một số loài thực vật thuộc họ Cáng lò (Betulaceae) và họ Gừng (Zingiberaceae)" (Chuyên ngành: Hóa học Hữu cơ, Mã số: 62 44 27 01, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011) đã tiến hành khảo sát có hệ thống về hóa học thực vật và hoạt tính kháng sinh học của 4 loài thực vật bản địa hoặc mới phát hiện tại Việt Nam.

Mục tiêu và các nội dung nghiên cứu chính của luận án được xác định gồm:

  1. Xây dựng quy trình chiết xuất và điều chế các phân chiết từ các bộ phận của 4 loài thực vật nghiên cứu.
  2. Phân tích sắc ký các phân chiết, xây dựng quy trình phân tách và phân lập các hợp chất thành phần ở dạng tinh khiết.
  3. Phân tách sắc ký và phân lập các hợp chất đơn chất từ các phân chiết thu được.
  4. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập bằng phương pháp vật lý và các phương pháp phổ hiện đại (MS, 1D và 2D NMR).
  5. Đánh giá hoạt tính sinh học (kháng vi sinh vật kiểm định) của một số hợp chất tecpenoit và steroit thu nhận được trong luận án.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm 4 loài thực vật:

  • Cây Tống quán sủi (Alnus nepalensis D. Don), thuộc họ Cáng lò (Betulaceae), thu hái tại Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
  • Cây Cáng lò (Betula alnoides Buch.-Ham. ex D. Don), thuộc họ Cáng lò (Betulaceae), thu hái tại khu vực vùng núi phía Bắc Việt Nam.
  • Cây Gừng môi tím đốm (Zingiber peninsulare I. Theilade), thuộc họ Gừng (Zingiberaceae), thu hái tại tỉnh Gia Lai (khu vực Tây Nguyên).
  • Cây Riềng maclurei (Alpinia maclurei Merr.), thuộc họ Gừng (Zingiberaceae), thu hái tại khu vực rừng núi phía Bắc Việt Nam.
TT Tên loài thực vật Tên khoa học Họ thực vật Bộ phận nghiên cứu Địa điểm thu hái
1 Tống quán sủi Alnus nepalensis D. Don Betulaceae Lá, cành con, vỏ cành Sa Pa, Lào Cai
2 Cáng lò Betula alnoides Buch.-Ham. ex D. Don Betulaceae Lá, cành con, vỏ cành Miền núi phía Bắc
3 Gừng môi tím đốm Zingiber peninsulare I. Theilade Zingiberaceae Thân rễ Gia Lai, Tây Nguyên
4 Riềng maclurei Alpinia maclurei Merr. Zingiberaceae Thân rễ Rừng núi phía Bắc

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan tình hình nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học trên thế giới và tại Việt Nam đối với các chi thuộc hai họ Betulaceae và Zingiberaceae:

  1. Chi Alnus và chi Betula (Họ Betulaceae):

    • Họ Betulaceae gồm 6 chi với khoảng 150-200 loài, trong đó Alnus và Betula là hai chi lớn nhất.
    • Về chi Alnus, các công trình quốc tế của Wollenweber (1974), Kuroyanagi và cộng sự (1988), Wada và cộng sự (1990), Ishida và cộng sự (1995), Lee và cộng sự (2000), Choi và cộng sự (2008), Ren và cộng sự (2010) đã phân lập nhiều nhóm chất như diarylheptanoit (oregonin, hirsutanonol, oregonoyl A-B), tritecpenoit khung secodammaran (các dẫn xuất của axit alnustic), flavonoit và ellagitannin (hirsunin, alnusnin A-B, pedunculagin). Về hoạt tính sinh học, các hợp chất từ Alnus thể hiện hoạt tính gây độc tế bào ung thư, ức chế enzyme HIV-1, chống viêm qua ức chế COX-2, ức chế yếu tố cảm ứng thiếu oxy HIF-1 và kháng virus cúm gia cầm H9N2.
    • Về chi Betula, các công trình của Smite và cộng sự (1993, 1995), Kashiwada và cộng sự (2007), Baser và cộng sự (2000, 2004), Mshvildadze và cộng sự (2007), S. Kim và cộng sự (2010) đã chỉ ra thành phần hóa học phong phú gồm tritecpenoit khung lupan (betulin, axit betulinic, lupeol), khung oleanan, arylbutanoit, phenylbutanoit và diarylheptanoit glycozit (betulaplatozit Ia, Ib, II). Tinh dầu của các loài Betula chứa nhiều hợp chất nhóm caryophyllen có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm.
  2. Chi Zingiber và chi Alpinia (Họ Zingiberaceae):

    • Về chi Zingiber, nghiên cứu của Endo và cộng sự (1990), Masuda và cộng sự (1993, 1994), Chung và cộng sự (2007), Usia và cộng sự (2004), Prakash và cộng sự (2006) đã phân lập các diarylheptanoit vòng và mạch hở, phenylbutenoit (nhóm cassumunin, cassumunarin), tinh dầu giàu zingiberen, geranial, cùng các hợp chất cay gingerol và shogaol có hoạt tính chống oxy hóa, kháng viêm, gây độc tế bào ung thư và ức chế protein P-glycoprotein. Ở Việt Nam, các tác giả Trịnh Đình Chính (1995), Phan Tống Sơn (1993), Lê Thị Anh Đào (2005, 2007), Văn Ngọc Hướng (2006) đã công bố thành phần tinh dầu và một số chất phân lập từ Zingiber officinale, Z. zerumbet, Z. purpureum, Z. eberhardtii.
    • Về chi Alpinia, nghiên cứu của Itokawa và cộng sự (1987), Morita và cộng sự (1988), Yamahara và cộng sự (1990), Ali và cộng sự (2001), An và cộng sự (2008), Zhang và cộng sự (2010) đã phát hiện các diarylheptanoit, chalcon (flavokawain B), labdan ditecpenoit và phenylpropanoit (1'-axetoxychavicol axetat) có tác dụng chống loét dạ dày, kháng Helicobacter pylori, kháng nấm và đối kháng thụ thể PAF. Tại Việt Nam, Lê Huyền Trâm (2007) và Văn Ngọc Hướng (2000) đã khảo sát một số loài Alpinia như A. tonkinensis, A. globosa, A. laosensis.

Khoảng trống nghiên cứu: Mặc dù chi Alnus, Betula, Zingiber và Alpinia có giá trị dược lý cao, 4 loài được lựa chọn trong luận án gồm Alnus nepalensis, Betula alnoides, Zingiber peninsulare và Alpinia maclurei tại Việt Nam hầu như chưa có công bố đầy đủ về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học (đối với B. alnoides mới chỉ có một thông báo ngắn sơ lược về 2 tritecpenoit trong vỏ, 3 loài còn lại hoàn toàn chưa từng được khảo sát hóa thực vật).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết của hóa học các hợp chất thiên nhiên (phytochemistry), sử dụng hệ thống các phương pháp chiết tách phân đoạn, kỹ thuật sắc ký kết hợp các phương pháp quang phổ phân tích cấu trúc hữu cơ và phương pháp thử nghiệm hoạt tính sinh học in vitro.

Quy trình chiết xuất và phân tách

  • Phương pháp chiết: Mẫu thực vật khô được xay nhỏ thành bột, ngâm chiết kiệt với metanol (MeOH) ở nhiệt độ phòng. Dịch chiết metanol gộp lại được cất thu hồi dung môi dưới áp suất giảm thu được cặn chiết tổng.
  • Phân bố lỏng - lỏng: Cặn chiết tổng được phân tán vào nước rồi chiết phân bố chọn lọc lần lượt với các dung môi có độ phân cực tăng dần: n-hexan, diclometan (CH2Cl2), etyl axetat (EtOAc) và n-butanol (n-BuOH) để thu được các phần chiết tương ứng.
  • Kỹ thuật sắc ký:
    • Sắc ký lớp mỏng (TLC): Sử dụng bản mỏng tráng sẵn silica gel 60 F254 (Merck, độ dày 0,2 mm). Thuốc thử hiện màu gồm dung dịch vanilin 1% trong H2SO4 đặc (phát hiện tecpenoit, flavonoit) và dung dịch Ce(SO4)2 2,5 g kết hợp axit photphomolipdic 5 g trong H2SO4 loãng (cho vệt màu xanh đen).
    • Sắc ký cột (CC) và sắc ký cột nhanh (FC): Chất hấp phụ là silica gel (Merck) các cỡ hạt 0,063-0,200 mm; 0,063-0,100 mm; 0,040-0,063 mm và 0,015-0,040 mm. Kỹ thuật FC sử dụng không khí nén áp suất 0,2-0,3 bar. Hệ dung môi rửa giải thay đổi từ phân cực thấp đến cao gồm: n-hexan/axeton, n-hexan/diclometan, n-hexan/etyl axetat, diclometan/etyl axetat, diclometan/metanol.
    • Sắc ký khí - khối phổ (GC-MS): Sử dụng để phân tích thành phần các phân đoạn dễ bay hơi và phần chiết n-hexan của thân rễ Zingiber peninsulare và Alpinia maclurei.
    • Kết tinh lại: Sử dụng các hệ dung môi thích hợp (CH2Cl2/MeOH, axeton, EtOAc) để làm sạch và thu tinh thể các chất.

Phương pháp xác định cấu trúc hóa học

  • Đo điểm nóng chảy (đ.n.c) trên thiết bị chuyên dụng và xác định độ quay cực.
  • Phổ khối lượng: Phổ khối lượng va chạm electron (EI-MS), phổ khối lượng ion hóa phun bụi điện tử (ESI-MS), phổ khối lượng phân giải cao (HR-ESI-MS và HR-APCI-MS) để xác định khối lượng phân tử chính xác và công thức phân tử.
  • Phổ hồng ngoại (IR): Ghi nhận các nhóm chức đặc trưng (-OH, C=O, liên kết đôi, vòng thơm).
  • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D và 2D NMR: Phổ 1H-NMR, 13C-NMR, DEPT (DEPT-90, DEPT-135) xác định độ chuyển dịch hóa học ($\delta$), hằng số tương tác spin-spin ($J$, Hz), bậc của nguyên tử cacbon; các phổ hai chiều 1H-1H COSY, HMQC, HMBC xác định tương tác không gian gần và tương tác qua 2-3 liên kết; phổ NOESY xác định cấu hình lập thể tương đối.

Phương pháp thử hoạt tính sinh học

Đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định theo phương pháp vi pha loãng chuẩn của Vanden Berghe và Vlietinck (1991), L. McKane và Kandel (1996) đối với 8 chủng vi sinh vật kiểm định (gồm vi khuẩn Gram dương, vi khuẩn Gram âm và nấm men, nấm mốc). Xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC, tính theo $\mu$g/ml).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày chi tiết về vị trí phân loại thực vật, đặc điểm hình thái, vùng phân bố địa lý, công dụng trong y dược học dân gian cũng như tổng quan các nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học đã công bố trên thế giới và tại Việt Nam của hai họ Betulaceae (trọng tâm là chi Alnus, Betula) và Zingiberaceae (trọng tâm là chi Zingiber, Alpinia).

Đồng thời, chương này mô tả chi tiết đặc điểm thực vật học, địa điểm thu hái và hiện trạng nghiên cứu của 4 đối tượng nghiên cứu trong luận án:

  • Alnus nepalensis D. Don: Cây thân gỗ cao 8-15 m, vỏ dày màu xám bạc, mọc hoang tại vùng núi rừng Sa Pa (Lào Cai). Vỏ cây được dùng trong dân gian để chữa thủy thũng, lỵ, tiêu chảy, viêm phổi, phong thấp, gãy xương. Chưa có công bố về thành phần hóa học.
  • Betula alnoides Buch.-Ham. ex D. Don: Cây gỗ nhỏ, vỏ màu nâu xám bong từng mảng, mùi thơm hắc, phân bố ở các tỉnh Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng và Tây Nguyên. Vỏ dùng chữa rắn cắn, cảm mạo, đau dạ dày, phong thấp.
  • Zingiber peninsulare I. Theilade: Cây thảo mọc hoang tại nơi râm mát ở Gia Lai (Tây Nguyên), hoa có cánh môi nhiều đốm tím đặc trưng. Chưa có nghiên cứu hóa học trước đó.
  • Alpinia maclurei Merr.: Cây thảo cao 1-2 m, phân bố tại vùng rừng núi phía Bắc, được sử dụng trong các bài thuốc dân gian. Chưa có nghiên cứu hóa học trước đó.

Chương 2: Phương pháp và thiết bị nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình chuẩn bị nguyên liệu thực vật, quy trình điều chế các phân chiết bằng phương pháp ngâm chiết metanol và chiết phân bố lỏng - lỏng. Chương này nêu cụ thể các thông số kỹ thuật của hệ thống thiết bị phân tích, chất hấp phụ sắc ký (silica gel các cỡ hạt của hãng Merck), thuốc thử hiện màu trên bản mỏng TLC, các thông số chạy sắc ký khí - khối phổ GC-MS, điều kiện đo các loại phổ MS, phổ 1D và 2D NMR, và quy trình thử nghiệm vi sinh vật kiểm định xác định giá trị MIC.

Chương 3: Phần thực nghiệm

Chương 3 trình bày chi tiết toàn bộ các bước thực nghiệm phân tách sắc ký từ các bộ phận của 4 loài cây nghiên cứu:

  • Cây Tống quán sủi (Alnus nepalensis): Mô tả quy trình chiết tách 2 mẫu thực vật, phân lập 18 chất từ phân chiết n-hexan, diclometan và etyl axetat của lá; 5 chất từ cành con; 5 chất từ vỏ cành. Ghi nhận đầy đủ điểm nóng chảy, dữ kiện phổ EI-MS, ESI-MS, HR-MS, 1H- và 13C-NMR của 21 hợp chất ký hiệu từ A1 đến A21.
  • Cây Cáng lò (Betula alnoides): Mô tả quá trình phân tách sắc ký các phân chiết n-hexan, diclometan, etyl axetat và n-butanol từ lá (thu được 11 chất đơn và 1 hỗn hợp), cành con (3 chất), vỏ cành (4 chất và 1 hỗn hợp). Liệt kê dữ kiện vật lý và phổ của 16 hợp chất và các hỗn hợp ký hiệu từ B1 đến B18.
  • Cây Gừng môi tím đốm (Zingiber peninsulare): Mô tả quá trình phân tích GC-MS phần dễ bay hơi của thân rễ và phân tách sắc ký cột các phân chiết n-hexan, diclometan, etyl axetat. Ghi nhận dữ kiện phổ của 9 hợp chất phân lập ký hiệu từ Z1 đến Z9.
  • Cây Riềng maclurei (Alpinia maclurei): Mô tả quy trình phân tích GC-MS phân chiết n-hexan từ thân rễ (nhận dạng 14 hợp chất) và phân lập 5 hợp chất (M1 đến M5) từ các phân chiết diclometan và etyl axetat.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 tổng hợp, phân tích số liệu hiệu suất chiết và biện luận chi tiết cấu trúc hóa học của tất cả các hợp chất phân lập được, đồng thời đánh giá hoạt tính kháng sinh học:

1. Khối lượng mẫu khô và hiệu suất các phân chiết

Luận án đã xử lý khối lượng mẫu và thu nhận các phân chiết tương ứng từ 4 loài:

Loài cây Bộ phận xử lý Khối lượng mẫu khô (kg) Phân chiết n-hexan (g) Phân chiết CH2Cl2 (g) Phân chiết EtOAc (g) Phân chiết n-BuOH (g) Cặn nước còn lại (g)
Alnus nepalensis Lá (Mẫu 1) 3,0 45,0 32,0 28,0 - -
Alnus nepalensis Lá (Mẫu 2) 2,5 38,0 25,0 22,0 - -
Alnus nepalensis Cành con 2,0 18,0 12,0 10,0 - -
Alnus nepalensis Vỏ cành 2,0 15,0 14,0 8,5 - -
Betula alnoides Lá 3,2 52,0 36,0 30,0 25,0 40,0
Betula alnoides Cành con 2,0 16,0 11,0 8,0 - -
Betula alnoides Vỏ cành 2,2 20,0 18,0 9,0 - -
Zingiber peninsulare Thân rễ 1,8 12,5 15,0 8,0 - -
Alpinia maclurei Thân rễ 2,0 14,0 16,5 7,5 - -

2. Cấu trúc các hợp chất phân lập từ Alnus nepalensis (21 hợp chất)

  • Phân lập và xác định cấu trúc của: taraxeryl axetat (A1), physcion (A2), 1-nonacosanol (A3), axit heptacosanoic (A4), quercetin (A5), $\beta$-sitosterol 3-$O$-$\beta$-D-glucopyranozit (A6), quercitrin (A7), taraxerol (A8), 22-hydroxyhopan-3-on (A9), 2-hydroxydiploterol (A10), axit betulinic (A11), axit mangiferonic (A12), axit 24(E)-3-oxodammaran-20(21),24(25)-dien-27-oic (A13), 1,5-epoxy-1-(3',4'-dihydroxyphenyl)-7-(4''-hydroxyphenyl)heptan (A14), bis-(4-hydroxyphenyl)heptan-3-ol (A15), hirsutenon (A16), axit gallic (A17), quercetin-3-$O$-$\beta$-D-galactopyranozit (A18), betulin (A19), taraxeron (A20) và $\beta$-sitosterol (A21).
  • Trong đó:
    • Hợp chất A14 là một diarylheptanoit mới.
    • Hợp chất A10 (2-hydroxydiploterol) là chất lần đầu tiên được phân lập từ nguồn gốc thực vật.
    • Các chất A2 (physcion), A12 (axit mangiferonic) và A13 (axit 24(E)-3-oxodammaran-20(21),24(25)-dien-27-oic) lần đầu tiên được phát hiện trong họ Betulaceae.

3. Cấu trúc các hợp chất phân lập từ Betula alnoides (16 hợp chất và 2 hỗn hợp)

  • Phân lập và xác định cấu trúc của: axit hexacosanoic (B1), $\beta$-sitosterol (B2), ovalifoliolid B (B3), hỗn hợp chrysoeriol (B4a) và kaempferol 7-$O$-metyl ete (B4b), 1-$O$-(24-tetracosanoyl)glyxerol (B5), quercetin (B6), betalnozit A (B7), betalnozit B (B8), $\beta$-sitosterol 3-$O$-$\beta$-D-glucopyranozit (B9), isoquercitrin (B10), betalnozit C (B11), rutin (B12), hỗn hợp axit oleanolic và axit ursolic (B13), lupeol (B14), betulin (B15), taraxeryl axetat (B16), taraxeron (B17), axit betulinic (B18).
  • Trong đó:
    • Ba saponin dammaran gồm betalnozit A (B7), betalnozit B (B8) và betalnozit C (B11) là các hợp chất có cấu trúc mới.
    • Hợp chất B3 (ovalifoliolid B) là chất hiếm gặp trong họ Betulaceae.
    • Các chất B5 [1-$O$-(24-tetracosanoyl)glyxerol], B16 (taraxeryl axetat) và B17 (taraxeron) lần đầu tiên được phân lập từ chi Betula.

4. Cấu trúc các hợp chất phân lập từ Zingiber peninsulare (9 hợp chất)

  • Phân tích GC-MS phần dễ bay hơi của thân rễ cho thấy thành phần chính là các sesquitecpenoit với $\beta$-bisabolen là cấu tử chiếm hàm lượng cao nhất, cùng các hidrocacbon mạch thẳng.
  • Từ các phân chiết đã phân lập và xác định cấu trúc 9 hợp chất: axit eicosanoic (Z1), 5-hydroxy-3,4',7-trimetoxyflavon (Z2), $\beta$-sitosterol (Z3), $6\beta$-hydroxystigmast-4-en-3-on (Z4), 4',5-dihydroxy-7-metoxyflavonol (Z5), 4',5-dihydroxy-3,7-dimetoxyflavon (Z6), 1-$O$-[(26-feruloyloxyhexacosanoyl)]glyxerol (Z7), 1-$O$-(28-hydroxyoctacosanoyl)glyxerol (Z8) và axit vanillic (Z9).
  • Trong đó, hai dẫn xuất glyxerol monoeste Z7 và Z8 là các hợp chất lần đầu tiên được phát hiện trong họ Gừng (Zingiberaceae).

5. Cấu trúc các hợp chất phân lập từ Alpinia maclurei (5 hợp chất)

  • Phân tích GC-MS phân đoạn n-hexan thân rễ nhận dạng được 14 hợp chất chiếm 77,35% tổng lượng phân chiết, trong đó monotecpenoit chiếm 36,72% với geraniol là thành phần chính (50,38%), sesquitecpenoit chiếm 5,71%, axit palmitic chiếm 2,07% và các metyl este của axit béo mạch dài chiếm 5,85%.
  • Từ phân chiết diclometan và etyl axetat đã phân lập 5 hợp chất: $\beta$-sitosterol (M1), axit palmitic (M2), dẫn xuất phenolic alpininon (M3), flavanon naringenin 5-$O$-metyl ete (M4) và $\beta$-sitosterol-3-$O$-$\beta$-D-glucopyranozit (M5).

6. Kết quả khảo sát hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định

Luận án lựa chọn 8 hợp chất đại diện thuộc nhóm tecpenoit và steroit để đánh giá hoạt tính kháng vi sinh vật trên 8 chủng vi khuẩn và nấm kiểm định:

  • Nhóm taraxeran: taraxeron (B17), taraxeryl axetat (A1), taraxerol (A8).
  • Nhóm lupan: lupeol (B14), axit betulinic (B18), betulin (A19).
  • Nhóm secodammaran: ovalifoliolid B (B3).
  • Nhóm stigmastan: $6\beta$-hydroxystigmast-4-en-3-on / $6\beta$-stigmastan-3,6-dion (Z4).

Kết quả thử nghiệm cho thấy:

  • Taraxeron (B17) thể hiện hoạt tính kháng chủng vi khuẩn Gram âm Pseudomonas aeruginosa với giá trị MIC là 25 $\mu$g/ml.
  • Taraxeryl axetat (A1) thể hiện hoạt tính kháng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa và kháng nấm mốc Aspergillus niger với cùng giá trị MIC là 100 $\mu$g/ml.
  • Các hợp chất còn lại (A8, A19, B3, B14, B18, Z4) không thể hiện hoạt tính kháng vi sinh vật rõ rệt ở các nồng độ thử nghiệm.
  • Biện luận mối liên quan giữa cấu trúc và hoạt tính (SAR): Hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm của nhóm taraxeran phụ thuộc vào nhóm thế tại vị trí C-3 của khung phân tử. Khi nhóm hydroxyl tại C-3 được oxy hóa thành nhóm xeton (như trong taraxeron) hoặc este hóa thành nhóm axetoxy (như trong taraxeryl axetat), hoạt tính kháng P. aeruginosa tăng lên rõ rệt.
Hợp chất thử nghiệm Khung cấu trúc Ký hiệu trong luận án Vi sinh vật nhạy cảm MIC ($\mu$g/ml)
Taraxeron Taraxeran B17 / A20 Pseudomonas aeruginosa 25
Taraxeryl axetat Taraxeran A1 / B16 Pseudomonas aeruginosa, Aspergillus niger 100
Taraxerol Taraxeran A8 Không thể hiện hoạt tính > 100
Betulin Lupan A19 / B15 Không thể hiện hoạt tính > 100
Lupeol Lupan B14 Không thể hiện hoạt tính > 100
Axit betulinic Lupan B18 / A11 Không thể hiện hoạt tính > 100
Ovalifoliolid B Secodammaran B3 Không thể hiện hoạt tính > 100
$6\beta$-hydroxystigmast-4-en-3-on Stigmastan Z4 Không thể hiện hoạt tính > 100

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về khoa học và thực tiễn

  1. Khám phá hóa học thực vật toàn diện trên 4 loài nghiên cứu:

    • Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về thành phần hóa học của 3 loài Alnus nepalensis, Zingiber peninsulare, Alpinia maclurei và nghiên cứu sâu về loài Betula alnoides tại Việt Nam.
    • Phân lập và xác định cấu trúc tổng cộng 51 lượt hợp chất (trong đó có 21 chất từ A. nepalensis, 16 chất từ B. alnoides, 9 chất từ Z. peninsulare, và 5 chất từ A. maclurei).
  2. Phát hiện các hợp chất mới và các dẫn xuất lần đầu tìm thấy trong tự nhiên:

    • Xác định cấu trúc của 4 hợp chất tự nhiên mới:
      • 1 hợp chất diarylheptanoit mới: 1,5-epoxy-1-(3',4'-dihydroxyphenyl)-7-(4''-hydroxyphenyl)heptan (từ lá cây Alnus nepalensis).
      • 3 saponin dammaran mới: betalnozit A, betalnozit B và betalnozit C (từ lá cây Betula alnoides).
    • Phát hiện hợp chất 2-hydroxydiploterol lần đầu tiên được phân lập từ nguồn gốc thực vật.
    • Phát hiện 3 hợp chất lần đầu tiên có mặt trong họ Betulaceae: physcion, axit mangiferonic và axit 24(E)-3-oxodammaran-20(21),24(25)-dien-27-oic.
    • Phát hiện 3 hợp chất lần đầu tiên phân lập từ chi Betula: taraxeryl axetat, taraxeron và 1-$O$-(24-tetracosanoyl)glyxerol.
    • Phát hiện 2 monoeste glyxerol mạch dài lần đầu tiên tìm thấy trong họ Zingiberaceae: 1-$O$-[(26-feruloyloxyhexacosanoyl)]glyxerol và 1-$O$-(28-hydroxyoctacosanoyl)glyxerol.
  3. Đóng góp về hoạt tính sinh học:

    • Xác định taraxeron có hoạt tính kháng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa với giá trị MIC 25 $\mu$g/ml và taraxeryl axetat kháng P. aeruginosa cùng Aspergillus niger với MIC 100 $\mu$g/ml.
    • Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm về mối quan hệ giữa cấu trúc nhóm thế tại C-3 khung taraxeran với khả năng kháng khuẩn.

Kiến nghị

  • Tiếp tục mở rộng khảo sát các hoạt tính sinh học khác như khả năng gây độc tế bào ung thư, hoạt tính chống viêm (ức chế COX-2, NO), và hoạt tính chống oxy hóa trên các phân đoạn diarylheptanoit và các hợp chất mới betalnozit A-C.
  • Nghiên cứu quy trình chiết xuất ở quy mô lớn hơn đối với các loài có hàm lượng hoạt chất tiềm năng phục vụ định hướng phát triển dược liệu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án mới chỉ thực hiện thử nghiệm hoạt tính kháng vi sinh vật kiểm định in vitro trên 8 hợp chất thuộc nhóm tritecpenoit và steroit; chưa tiến hành đánh giá hoạt tính sinh học của toàn bộ các hợp chất phân lập được (đặc biệt là nhóm diarylheptanoit và flavonoit do giới hạn về lượng mẫu tinh khiết). Các thử nghiệm sinh học mới dừng ở mức vi sinh vật kiểm định, chưa thực hiện các mô hình thử nghiệm tế bào chuyên sâu hoặc in vivo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Khảo sát hoạt tính sinh học đa dạng (chống khối u, kháng viêm, ức chế enzyme) của nhóm diarylheptanoit phân lập từ cây Alnus nepalensis và các saponin dammaran mới từ cây Betula alnoides.
    • Đi sâu nghiên cứu cơ chế phân tử tác động kháng khuẩn của taraxeron đối với chủng Pseudomonas aeruginosa.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng và lĩnh vực sau:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Hóa hữu cơ, Hóa dược và Dược học: Cung cấp tài liệu tra cứu về quy trình sắc ký phân lập các lớp chất khó tách (dammaran saponin, diarylheptanoit vòng và mạch hở, tritecpenoit năm vòng), cùng bộ dữ liệu phổ 1D, 2D NMR chi tiết phục vụ giảng dạy và giải mã cấu trúc hợp chất tự nhiên.
  • Các viện nghiên cứu và doanh nghiệp phát triển dược liệu: Bổ sung cơ sở dữ liệu hóa thực vật và thành phần hóa học chuẩn hóa cho 4 loài cây bản địa (Alnus nepalensis, Betula alnoides, Zingiber peninsulare, Alpinia maclurei), định hướng cho việc khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thực vật làm thuốc tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đã nghiên cứu thành phần hóa học của những loài thực vật nào?

Luận án nghiên cứu 4 loài thực vật thuộc 2 họ:

  • Họ Betulaceae: Cây Tống quán sủi (Alnus nepalensis D. Don) và Cây Cáng lò (Betula alnoides Buch.-Ham. ex D. Don).
  • Họ Zingiberaceae: Cây Gừng môi tím đốm (Zingiber peninsulare I. Theilade) và Cây Riềng maclurei (Alpinia maclurei Merr.).

2. Có bao nhiêu hợp chất mới được phát hiện và xác định cấu trúc trong luận án?

Luận án đã phân lập và xác định cấu trúc của 4 hợp chất mới hoàn toàn trong tự nhiên:

  • 1 hợp chất diarylheptanoit mới: 1,5-epoxy-1-(3',4'-dihydroxyphenyl)-7-(4''-hydroxyphenyl)heptan (phân lập từ lá Alnus nepalensis).
  • 3 hợp chất saponin dammaran mới: betalnozit A, betalnozit B và betalnozit C (phân lập từ lá Betula alnoides).

3. Hợp chất nào thể hiện hoạt tính kháng khuẩn tốt nhất trong các chất được thử nghiệm?

Trong số 8 hợp chất tecpenoit và steroit được thử nghiệm, hợp chất taraxeron (B17) thể hiện hoạt tính kháng khuẩn mạnh nhất đối với chủng vi khuẩn Gram âm Pseudomonas aeruginosa với giá trị MIC là 25 $\mu$g/ml.

4. Thành phần chính trong phân đoạn dễ bay hơi của thân rễ cây Riềng maclurei (Alpinia maclurei) là gì?

Theo kết quả phân tích GC-MS, phân đoạn n-hexan của thân rễ cây Riềng maclurei chứa 14 hợp chất (chiếm 77,35%), trong đó monotecpenoit chiếm 36,72% với geraniol là thành phần chính (chiếm 50,38% hàm lượng phân đoạn này).

5. Những phương pháp quang phổ chính nào được sử dụng để xác định cấu trúc hóa học?

Luận án sử dụng kết hợp đo điểm nóng chảy (đ.n.c), độ quay cực, phổ hồng ngoại (IR), phổ khối lượng (EI-MS, ESI-MS, HR-ESI-MS, HR-APCI-MS) và hệ thống phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D và 2D NMR (1H-NMR, 13C-NMR, DEPT, 1H-1H COSY, HMQC, HMBC, NOESY).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trương Thị Tố Chinh đã khảo sát hóa thực vật và hoạt tính sinh học của 4 loài thuộc họ Betulaceae và Zingiberaceae tại Việt Nam. Công trình đã phân lập và xác định cấu trúc của 51 lượt hợp chất, trong đó phát hiện 4 hợp chất mới (1 diarylheptanoit và 3 saponin dammaran), 1 chất lần đầu tiên từ thực vật (2-hydroxydiploterol) và nhiều hợp chất lần đầu tiên được ghi nhận trong các chi và họ nghiên cứu. Thử nghiệm sinh học đã xác định taraxeron là hợp chất có hoạt tính kháng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa với nồng độ ức chế tối thiểu MIC 25 $\mu$g/ml, đồng thời làm sáng tỏ mối liên quan giữa cấu trúc nhóm thế tại C-3 của khung taraxeran với hoạt tính sinh học. Toàn bộ kết quả đóng góp tư liệu khoa học về hóa học các hợp chất thiên nhiên và cung cấp dữ liệu cơ sở cho định hướng nghiên cứu phát triển nguồn dược liệu trong nước.